Truyền thuyết về Tiêu Sử – Lộng Ngọc: Tiên duyên kết làm phu thê; Cùng nhau tu luyện trở về

Chia sẻ Facebook
01/10/2021 13:53:07

Lộng Ngọc sai người chuyển lời cho Mục Công để Tiêu Sử thổi tiêu. Tiêu Sử lấy chiếc tiêu trong suốt và mịn màng ra thổi. Khi khúc nhạc lần đầu tiên vừa cất lên, có cơn gió thổi hây hây; thổi lần thứ hai những đám mây ngũ sắc quần tụ khắp cung điện; đến lần thứ ba tiêu thổi lên, có đôi hạc trắng bay lượn trên bầu trời và còn có đôi khổng tước bay về đậu trên cây ngô đồng trước sân…

Vào thời Xuân Thu, Tần Mục Công có một người con gái tên là Lộng Ngọc. Truyện kể rằng năm cô sinh nhật tròn một tuổi, trong hoàng cung chuẩn bị rất nhiều vật dụng để dự đoán tương lai sau này của công chúa. Tiểu công chúa ngẫu nhiên cầm một miếng ngọc bội không buông, nên nhà vua đã đặt tên này cho cô là Lộng Ngọc.

Lớn lên, Lộng Ngọc rất thông minh và thập phần xinh đẹp. Cô thích yên tĩnh, thích ở một mình trong thâm cung, sở thích duy nhất của Lộng Ngọc là thổi khèn. Tuy không ai dạy nhưng cô vẫn có thể thổi lên những giai điệu làm say đắm lòng người, tựa như tiếng hót của chim phượng hoàng.

Tần Mục Công rất mực yêu thương con gái, nên sai người chế tác một chiếc khèn bằng ngọc bích tặng cho con gái, sau đó xây cho cô một “Tòa Lầu Phượng”, phía trước của tòa lầu còn có một đài cao gọi là “Phượng Đài”.

Khi Lộng Ngọc được 15 tuổi, Mục Công muốn kén phò mã cho cô. Nàng biết chuyện, bèn thưa với cha: “Con phải lấy người biết thổi khèn và cùng xướng họa được với con, còn không thì con sẽ chưa lấy chồng”. Tuy nhiên, tìm khắp trên vương quốc cũng không có ai đáp ứng được tiêu chuẩn này.

Một đêm, Lộng Ngọc ngồi trầm tư trong tòa lầu phượng, nàng bất giác nàng lấy khèn ra thổi, tiếng khèn độc tấu bay bổng giữa thinh không, thanh âm ôn nhu réo rắt. Trong gió nhè nhẹ chợt nghe có tiếng tiêu họa lại, âm thanh rập rờn thanh thoát lúc gần lúc xa, Lộng Ngọc dừng lại để trầm tư lắng nghe, thì tiếng tiêu cũng ngừng theo, nhưng dư âm còn vọng lại không dứt, ngoài không trung bầu trời đêm tĩnh lặng dưới ánh trăng sáng vằng vặc soi sáng từng cảnh vật…

Màn đêm buông xuống, Lộng Ngọc trầm tư dần dần chìm vào trong giấc mộng, trong mơ nàng chợt thấy bầu trời rộng mở, thập quang ngũ sắc rực rỡ như ban ngày. Rồi bỗng đâu xuất hiện một chàng trai trẻ tuổi khôi ngô anh tuấn, đội mũ lông khoác áo lông hạc, cưỡi phượng hoàng từ trên trời bay xuống đứng trước Phong Đài, nói với nàng: “Ta chính là chủ nhân của núi Thái Hoa. Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta kết duyên với nàng. Trung thu này chúng ta sẽ gặp nhau làm trọn thệ ước đoạn nhân duyên này”. Nói xong, chàng trai cởi chiếc ngọc tiêu đeo bên hông xuống, rồi đứng dựa lan can mà thổi …

Kết duyên phu thê với người trong mộng

Sáng hôm sau, Lộng Ngọc thuật lại giấc mơ cho cha mình. Mục Công lập tức phái người đến núi Thái Hoa tìm người.

Có một tiều phu ở đó chỉ rằng: “Trên núi có một chàng trai lạ mặt mỗi tối thường chơi khúc ngọc tiêu, cách xa hàng trăm dặm vẫn nghe thấy tiếng tiêu. Tôi không biết chàng trai ấy người ở đâu, chỉ biết rằng cậu ấy sống trên núi này”.

Quả nhiên người của Mục Công khi lên núi thấy có một nam tử mũ lông, áo hạc, trông như một vị Thần Tiên, liền mời về bái kiến Mục Công. Người này họ Tiêu tên Sử, không biết thổi khèn, chỉ biết thổi tiêu.

Lộng Ngọc sai người chuyển lời cho Mục Công để Tiêu Sử thổi tiêu. Tiêu Sử lấy chiếc tiêu trong suốt và mịn màng ra thổi. Khi khúc nhạc lần đầu tiên vừa cất lên, có cơn gió thổi hây hây; thổi lần thứ hai những đám mây ngũ sắc quần tụ khắp cung điện; đến lần thứ ba tiêu thổi lên, có đôi hạc trắng bay lượn trên bầu trời và còn có đôi khổng tước bay về đậu trên cây ngô đồng trước sân. Tiếp đó, hàng trăm con chim cùng tụ hợp kêu ríu rít, một lúc lâu rồi mới chúng mới tản đi. Lộng Ngọc nhìn kỹ, nhận ra chiếc tiêu ngọc trong tay Tiêu Sử chính là vật mình đã nhìn thấy trong mơ. Trong lòng mừng thầm, nhận ra mình đã tìm được người trong mộng. Tần Mục Công hỏi Tiêu Sử về nguồn gốc của khèn và tiêu là gì. Tiêu Sử trả lời rằng: “Khèn và tiêu là cùng loại, đều là từ tiếng chim phượng hoàng hót mà biến đổi thành. Khèn là do Nữ Oa phát minh, với ý nghĩa vạn vật sinh sôi nảy nở. Tiêu là do Phục Hy phát minh, có nghĩa là quét sạch, thanh trừng, có thể dùng để thanh lý những thứ không tốt trong thiên địa”.

“Tập bản đồ các câu chuyện về nhân vật” của Ming Chouying, “Thổi sáo thu hút phượng hoàng”, mực và màu trên lụa, do Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc sưu tầm. (Phạm vi công cộng)

Mục Công hỏi: “Chàng trai, tại sao cậu thổi sáo mà có thể thu hút được hàng trăm chim muông tới như vậy? Tiêu Sử đáp: “Tiếng tiêu giống như tiếng hót của phượng hoàng. Lúc xưa, vua Thuấn diễn tấu khúc Tiêu Thiều, phượng hoàng nghe thấy liền bay tới hành lễ. Chim phượng là vua của các loài chim còn bay tới, huống chi là các giống chim khác?”

Mục Công chứng kiến Tiêu Sử thổi tiêu, có thể thông thiên cảm địa, cử chỉ phóng khoáng, phong thái đĩnh đạc, nên đã phong chàng làm phò mã. Ngày mà Lộng Ngọc và Tiêu Sử kết nghĩa phu thê cũng trùng hợp đúng vào Tết Trung thu.

Phu thê cưỡi rồng phượng bay về trời

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng mỗi ngày cùng nhau ở Phong Đài luyện khèn thổi tiêu. Tiêu Sử dạy Lộng Ngọc tập âm thanh của Loan Phượng. Phu thê hòa hợp, tiếng khèn, tiếng tiêu ôn nhu, thanh túc hòa nhã. Lộng Ngọc phát hiện phu quân không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống rượu hoặc ăn một chút hoa quả. Sau đó, Tiêu Sử đã truyền lại phương pháp tịch cốc này cho vợ. Cứ như vậy hai vợ chồng chăm chỉ luyện tập, nhiều năm không ra khỏi Lầu Phượng. Không còn chuyện nam nữ, cũng không ăn đồ ở nhân gian, hai người dần dần đạt đến trạng thái tâm thanh tịnh, thân thể nhẹ nhàng. Sau hơn mười năm, tiếng tiêu của Lộng Ngọc thổi giống như tiếng hót của chim Phượng hoàng, thanh âm tương hợp, có thể chạm tới thiên đình. Phượng hoàng nghe được cảm động, thường xuyên thường bay từ bầu trời xuống và đậu trên mái lầu của họ.

Một đêm nọ, Tiêu Sử và Lộng Ngọc đang hòa tấu dưới mặt trăng, đột nhiên có một con phượng hoàng màu tím bay tới và đậu ở bên trái của Phong Đài, lại có một con rồng khác bay về phía bên phải của Phong Đài. Biết rằng thời cơ đã đến, Tiêu Sử đã nói với Lộng Ngọc bí mật mà anh đã cất  giấu trong nhiều năm: “Ta vốn là Tiên nhân trên trời, bởi nhân gian sách sử bị tản loạn, nên Thượng Đế phái ta xuống nơi đây chỉnh lý lại. Ta sinh ngày 5 tháng 5, năm thứ 17 thời Chu Tuyên Vương, trong một gia đình Tiêu thị thời Tây Chu, tên là Tiêu Tam Lang. Sau khi hoàn thành chỉnh lý điển sách cổ, người nhà Chu gọi ta là Tiêu Sử, tính đến nay đã hơn 110 tuổi. Thượng Đế lại lệnh cho ta làm chủ nhân của Hoa Sơn, vì có tiên duyên với nàng, nên dùng tiếng tiêu hòa hợp kết duyên vợ chồng, cùng nhau tu hành. Hiện nay trần duyên đã tận, tu luyện đã viên mãn, không nên ở lại nhân gian nữa, hôm nay long phượng đến đón chúng ta về trời”.

Những bức tranh tường về động vật cưỡi rồng bất tử, núi Maiji trong triều đại Bắc Ngụy. (Phạm vi công cộng)

Lộng Ngọc muốn nói lời từ biệt với cha mình, Tiêu Sử nói: “Thần tiên không có ưu sầu, sao còn lưu luyến thân nhân gia quyến!” Nói rồi, Tiêu Sử cưỡi con rồng đỏ, còn Lộng Ngọc cưỡi con phượng hoàng tím, từ Phượng Đài bay lên mây rồi về trời.

Ngày hôm sau, Tần Mục Công biết chuyện, trong lòng buồn rầu mà thở dài: “Thần tiên thật sự có tồn tại! Nếu có long phượng đến đón ta, ta cũng sẽ bỏ cả giang sơn mà bay về trời!” Kể từ đó, Mục Công xa rời quốc sự nhất tâm việc tu luyện. Tương truyền sau này ông cũng đã đắc Đạo thành Tiên.

Bức tranh chủ đề “Hình Tiên Thừa Viên” thời nhà Tống. (Phạm vi công cộng)

Hôn nhân của nhân loại nơi thế gian, chẳng qua cũng chỉ là tình cảm giữa nam và nữ, cũng là duy trì sự sinh sôi nảy nở giống nòi cho hậu thế. Nhưng đôi vợ chồng bầu bạn Thần tiên như Tiêu Sử và Lộng Ngọc, hỏi từ xưa đến nay có được bao nhiêu người?


Theo Epoch Times
Ngọc Châu biên dịch

Chia sẻ Facebook