Một vài máy tính lớn khác trên thế giới

Chia sẻ Facebook
05/08/2019 15:31:34

Gần 70 năm kể từ khi chiếc máy tính đầu tiên trên thế giới được xây dựng, máy tính đã có những bước đột phá về tất cả mọi mặt: thiết kế, hiệu năng, kích thước...Chúng ta hãy cùng điểm lại những cột mốc phát triển của máy tính để xem chúng đã thay đổi như thế nào theo thời gian.

ENIAC, 1946

ENIAC là tên viết tắt của Electronic Numerical Integrator and Computer: máy tính tích phân điện tử. ENIAC do 2  kĩ sư là J. Presper Eckert và John Mauchly của trường đại học Pennsylvania, Mỹ xây dựng vào năm 1942 và được xem là chiếc máy tính điện tử thực thụ đầu tiên trên thế giới. ENIAC được dùng trong chiến tranh thế giới II nhằm tính toán quỹ đạo của tên lửa đạn đạo. Tuy nhiên, ENIAC chỉ được hoàn thiện sau khi sau cuộc chiến tranh này kết thúc được 1 năm, tức là vào năm 1946.

SAGE, 1954

SAGE được xem là một hệ thống phòng thủ khổng lồ trên không được điều khiển bằng máy tính. Nguyên gốc từ SAGE là Semi-Automatic Ground Environment (môi trường mặt đất bán tự động). Nó được thiết kế để giúp cho lực lượng Air Force theo dõi dữ liệu radar theo thời gian thực. Được trang bị các công nghệ tiên tiến như modem và các màn hình đồ họa, cỗ máy này nặng 300 tấn và, tất nhiên cũng rất đồ sộ.

NEAC 2203, 1960

Cỗ máy do hãng Nippon Electric Company (NEC) sản xuất, NEAC 2203 là một trong những máy tính dùng chất bán dẫn đầu tiên của Nhật Bản. Nó được sử dụng cho các ứng dụng kinh doanh, khoa học và kĩ thuật.

IBM System/360, 1964

Là một phần của dòng máy tính hoán đổi, IBM System/360 là máy tính đầu tiên có thể chứa được các ứng dụng nhỏ và lớn ở nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến khoa học. Người dùng có thể mở rộng hoặc co lại việc setup mà không phải lo lắng việc nâng cấp phần mềm. Các model System/360 cao cấp giữ vai trò quan trọng trong chiến dịch Apollo nhằm chinh phục mặt trăng của NASA (Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Mỹ). Nó cũng được sử dụng trong các hệ thống điều khiển giao thông hàng không.

CDC 6600, 1964

Một thời từng là chiếc máy tính nhanh nhất thế giới, chiếc máy tính 6600 của CDC (Control Data Corporation: tổng công ty kiểm soát dữ liệu) được thiết kế bởi kiến trúc sư máy tính danh tiếng Seymour Cray. Nó giữ danh hiệu chiếc máy tính nhanh nhất thế giới đến năm 1969 trước khi chính Seymour Cray thiết kế ra 1 siêu máy tính thế hệ mới của mình.

DEC PDP-8, 1965

Máy tính mini thương mại đầu tiên thành công, chiếc PDP-8 mà bạn thấy ở hình trên do tập đoàn Digital Equipment sản xuất. Hãng này bán được 50 nghìn chiếc PDP-8 thời điểm ra mắt, nhiều nhất trong tất cả các máy tính ra mắt vào thời điểm đó.

Interface Message Processor (IMP), 1969

Được xây dựng vào thời cao điểm của cuộc chiến tranh Lạnh (diễn ra từ 1945 đến 1991 nói về các xung đột chính trị, quân sự và kinh tế giữa Liên Xô và các nước phương Tây sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc).  IMP được Chính phủ Mỹ xây dựng để giúp hệ thống mạng máy tính hoạt động ổn định trong trường hợp một số điểm nút mạng bị các cuộc tấn công hạt nhân phá hủy cũng như phòng bị các cuộc tấn công thù địch khác. IMP là máy tính đầu tiên có chức năng gateways mà ngày nay được biết đến với tên gọi router. Nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mạng ARPANET - mạng chuyển mạch gói tin và là tiền thân của mạng Internet ngày nay.

Kenbak-1, 1971

Thường được xem là máy tính cá nhân đầu tiên trên thế giới, Kenbak được coi là công cụ phục vụ cho công việc giáo dục bởi đặc tính dễ sử dụng của nó. Tuy nhiên, doanh số bán ra của nó rất khiêm tốn. Do thiếu một bộ vi xử lý, tốc độ xử lý của nó chỉ có 256 byte.

Cray-1, 1976

Vào thời điểm bán ra, Cray-1 là chiếc máy tính điện toán nhanh nhất trên thế giới. Mặc dù mức giá rất đắt (khoảng 5 đến 10 triệu USD), Cray-1 bán rất chạy. Nó là một trong rất nhiều máy tính do kiến trúc sư máy tính Seymour Cray thiết kế. Seymour Cray là một người tâm huyết và dành trọn cuộc đời mình để thiết kế các siêu máy tính - những máy tính được thiết kế với mục tiêu ưu tiên khả năng xử lý và tốc độ tính toán.

Apple I, 1976

Ý tưởng xây dựng Apple I là của teve Wozniak (được biết đến với tên gọi Woz),  Apple I không được lãnh đạo của Wozniak ở HP chấp thuận. Không nản lòng, Wozniak đưa Apple I đến câu lạc bộ dành cho những người đam mê “độ” máy tính ở thung lũng Silicon. Cùng với người bạn mình là Steve Jobs, ông bán được 50 chiếc máy tính này cho Byte Shop ở Mountain View, California với giá 666 USD. Dù doanh số bán rất thấp nhưng nó mở đường cho sự thành công của Apple II.

Máy tính cá nhân của IBM, 1981

Với 1 màn hình, bàn phím và máy in độc lập cùng thiết kế hoàn chỉnh, mượt mà, máy tính cá nhân của IBM đã mở đầu cho những cuộc đổ bộ của máy tính cá nhân dành cho doanh nghiệp và người dùng. Thành công về mặt thương mại to lớn khiến PC của IBM trở thành tiêu chuẩn của máy tính cá nhân trong nhiều năm và dẫn đường để các nhà sản xuất khác làm ra các model máy tính để bàn tương tự.

Máy tính xách tay Osborne 1, 1981

Đây là chiếc máy tính xách tay thương mại đầu tiên. Nó nặng 10,88 kg và có giá dưới 2000 USD. Osborne được sử dụng phổ biến do mức giá thấp so với giá máy tính thời điểm đó, đồng thời thư viện phần mềm đi kèm cũng rất phong phú.

Máy tính HP 150, 1983

Đại diện cho những bước đầu tiên trong công nghệ phổ biến hiện nay, HP 150 là máy tính thương mại đầu tiên sử dụng công nghệ màn hình cảm ứng. Màn hình 9 inch của nó được phủ bởi các máy phát hồng ngoại và bộ thu phát nhằm nhận diện vị trí ngón tay của người dùng.

Deep Blue, 1997

Được bắt đầu xây dựng tại IBM vào cuối những năm 1980, dự án Deep Blue là nỗ lực sử dụng khả năng xử lý song song để giải quyết 1 vấn đề khó khăn: đánh bại người chơi cờ hay nhất thế giới thời điểm đó là Garry Kasparov. Sau 1 trận đấu dài 6 hiệp, Garry Kasparov cuối cùng cũng thua trận.

iPad, 2010

Sau thành công vang dội của iPhone, Apple tiếp tục cho ra mắt thế hệ máy tính bảng với tên gọi iPad có bề dày chỉ khoảng 1,2 inch, trọng lượng khoảng 680 gram và màn hình 9,7 inch. Như Steve Jobs cho biết trong buổi ra mắt, thiết bị có thời lượng pin sử dụng lên đến 10 tiếng. Người dùng có thể sử dụng các phần mềm, ứng dụng được phát triển từ phía thứ 3, chơi game, xem video và truy cập internet (tương tự như iPhone). Giá bán cho bản Wi-Fi là 499 USD còn bản 3G là 629 USD.

Có thể nói những chiếc máy tính để bàn hay laptop đang đóng một vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta hiện nay. Mọi hoạt động trong cuộc sống của con người trong đều có thể liên quan đến máy tính: thiết kế sản phẩm, học tập, làm phim... Trên thị trường, cũng có nhiều mẫu mã máy tính khác nhau phục vụ những mục đích khác nhau của khách hàng.

Nhưng hãy quay lại khoảng 40 năm về trước, khi mà thị trường máy tính cá nhân còn rất mới mẻ. Hầu hết vào trước thời điểm đó máy tính chỉ được các cơ quan chính phủ hay các viện nghiên cứu sử dụng bởi chúng rất đắt. Với sự tiến bộ không ngừng của công nghệ, những chiếc máy tính cá nhân đầu tiên cũng đã được ra đời phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau của người sử dụng. Nó đánh dấu một bước ngoặt lớn trong thị trường máy tính và phát triển mạnh mẽ như ngày hôm nay. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu 10 mẫu máy tính được sử dụng rộng rãi nhất trong lịch sử qua bài viết này.


10. Timex Sinclair 1000

Năm 1981, hãng Sinclair cho ra mắt một mẫu máy tính với mức giá quá rẻ vào thời điểm bấy giờ: 99,95 USD. Timex Sinclair 1000, hay còn gọi là ZX81 có thiết kế khá nhỏ, được trang bị bộ xử lí 8-bit Z80 với xung 3,25MHz, và chỉ có 1Kb RAM. Những năm 80, việc sở hữu một chiếc máy tính cá nhân vẫn còn là một giấc mơ với nhiều người. Vì vậy, ngay khi ZX81 ra đời, nó thực sự trở thành một cơn sốt, thu hút được sự chú ý của đông đảo khách hàng. Chỉ tính riêng tại Mỹ, ZX81 đã bán được hơn 600.000 chiếc và tính đến khi chiếc máy tính này dừng sản xuất, đã có 1.5 triệu sản phẩm được tiêu thụ.

Mặc dù, so với tiêu chuẩn thời bấy giờ, cấu hình của nó thực sự chậm chạp bởi Sinclair đã giảm số lượng chip trên bo mạch chủ từ 21 giống ở người đàn anh ZX-80 xuống chỉ còn 4 ở chiếc ZX-81 này. ZX81 cũng có thể xuất hình đơn sắc qua TV, màn hình hiển thị bao gồm 24 dòng, mỗi dòng 32 kí tự cùng độ phân giải là 64x48 pixels.


9. Tandy TR S-80

Năm 1970, khi mà băng từ cát-sét vẫn còn được sử dụng để lưu trữ dữ liệu thì Radio Shack đã tung ra một dòng máy tính cá nhân mới với khả năng vượt trội có tên gọi là TR S-80. Nhờ vào TR S-80 mà thương hiệu Tandy mới thực sự lớn mạnh và có khả năng cạnh tranh được với những tên tuổi lớn thời bấy giờ như IBM, Apple hay Commodore.

Chiếc TR S-80 này được sản xuất lần đầu tiên vào năm 1977, trước khi thị trường máy tính thực sự bùng nổ. Mẫu máy đầu tiên của dòng Tandy này gồm 4Kb RAM, bộ xử lí 1,77MHz và một màn hình 12 inch với giá 600 USD. Những thế hệ sau cùng với giao diện mở rộng đã tăng khả năng của dòng máy tính này lên rất nhiều, hỗ trợ thêm bộ nhớ, cổng giao tiếp và đĩa mềm.

Hệ điều hành TR S-DOS của Tandy là một hệ điều hành phổ biến trước khi xuất hiện MS-DOS. Và nền tảng của những hệ điều hành đầu tiên của Microsoft cũng có một số điểm tương đồng với TRS- DOS. Và không hề ngạc nhiên khi Tandy bán được 200.000 sản phẩm và nối tiếp thành công của TRS-80 bằng những sản phẩm đột phá khác như máy tính màu 1980 hay CoCo.

Vào những năm 80, trong khi những công ty nổi tiếng như IBM, Commodore, Sinclair và Apple đang làm mưa làm gió tại thị trường Âu-Mỹ, thì người Nhật Bản cũng có những thành tựu riêng của họ. MSX là một mẫu máy tính độc đáo, với hệ thống phần cứng tiêu chuẩn, được áp dụng cho phần lớn những mẫu máy tính của các công ty Nhật Bản như Toshiba hay Sony.

MSX được thiết kế bởi công ty Microsoft Nhật Bản và được dẫn đầu bởi Phó Chủ tịch Kazuhiko Nishi. Chúng sử dụng Microsoft BASIC với mức giá khá rẻ trong những năm 1980. Kể từ khi ra mắt MSX, thị trường máy tính cá nhân đã tiêu thụ được hơn 5 triệu sản phẩm. Mặc dù MSX chưa bao giờ được công nhân là một hệ thống phần cứng tiêu chuẩn, nhưng thực sự dòng máy tính này đã rất thành công tại Nhật Bản (Trò chơi Metal Gear cũng được phát hành trên dòng máy MSX đầu tiên).


7. NEC PC-98

Trong khi MSX vẫn còn đang rất phổ biến ở Nhật Bản với một hệ thống tiêu chuẩn về phần cứng thời bấy giờ, thì NEC PC-98 thực sự gây ra một tiếng vang lớn trong thị trường máy tính cá nhân. Ra mắt vào năm 1982, PC- 98 hoạt động với bộ vi xử lí Intel 8086 với tốc độ 5MHz và 128Kb RAM, được đánh giá là một mẫu máy tính mạnh mẽ vào thời điểm ra mắt. Như một lẽ dĩ nhiên, NEC nhanh chóng thống trị thị trường Nhật Bản với thị phần khoảng 50%, tất cả nhờ vào sự thành công của hệ thống máy tính mạnh mẽ của mình.

Mặc dù trong những năm 1980 với sự thống trị của hang IBM, nhưng NEC vẫn đạt được những thành công nhất định. Dòng máy tính này bán được hơn 15 triệu sản phẩm chỉ trong vòng hơn một thập kỉ. Điều này làm khiến nhiều người còn đánh giá PC-98 như là một IBM PC của phía đông vậy.


6. iMac

Trong những năm 1980, iMac được coi là một mẫu máy tính độc đáo nhất với những nét đột phá mà không sản phẩm nào có được. Dĩ nhiên, đó chỉ chỉ là quan điểm của Apple. Khi ra mắt iMac vào năm 1988, họ quảng cáo dòng sản phẩm của mình với màu sắc mới lạ và chỉ trích màu be nhàm chán của dòng máy tính thông thường. Tuy nhiên, đến nay, Apple đã trút bỏ vẻ ngoài sặc sỡ cho iMac, thay vào đó là màu trắng truyền thống. iMac độc đáo ở chỗ nó tích hợp mọi thứ mà máy tính thông thường có ở bên trong màn hình, dễ hàng vận chuyển, dễ dàng cài đặt là những ưu điểm nổi bật nhất của chúng.

Chính iMac đã bắt đầu một kỉ nguyên mới đầy rực rỡ cho Apple, là nền tảng cho những sản phẩm sau này như iPod, iPhone và iPad. Thiết kế độc đáo, màu sắc bắt mắt, tiện lợi đã làm nên thành công của dòng sản phẩm này trong những năm đầu đời của thị trường máy tính cá nhân.


5. Commodore Amiga

Chiếc Amiga 500, ra mắt vào năm 1987, tiếp bước thành công của những dòng máy tính Commodore 64 và Apple II. Nhanh hơn, mới hơn và tốt hơn là những ưu điểm nổi bật của dòng sản phẩm này. Amiga đã trở thành một mẫu máy tính mạnh mẽ nhất khi chuyển từ CPU 8-bit lên đến 32-bit và tốc độ 7MHz. Nó còn tích hợp 512Kb RAM, hỗ trợ 4.096 màu sắc và gồm một ổ đĩa mềm 3.5 inch bên trong. Không quá tồi với mức giá 700 USD vào thời điểm bấy giờ.

Chiếc Amiga này là một máy tính mạnh mẽ, trang bị khả năng hiển thị và truyền tải âm thanh vượt trội so với các máy cùng thời. Commodore cho ra mắt khá nhiều sản phẩm của dòng Amiga nhưng phổ biến nhất là Amiga 500. Chúng là nền tảng cho nhiều tựa game và các chương trình thiết kế đồ họa hay âm thanh, đặc biệt là thiết kế đồ họa và hình ảnh động – điều mà trước đây chưa một máy tính cá nhân nào có thể làm được.

Các sản phẩm của dòng Amiga đã bán được gần 6 triệu sản phẩm – một con số mơ ước với nhiều hãng máy tính đầu những năm 1980.


4. Apple II

Apple II được ra mắt vào năm 1977, cùng thời với chiếc Timex Sinclair 1000. Apple II có mức giá khởi điểm là 1.300 USD, khá đắt so với mức giá rẻ bèo của TS 1000 nhưng trái ngược với suy nghĩ nhiều người, Apple II thực sự là một thành công lớn. Nó được xây dựng trên thiết kế của Apple I bằng cách giữ lại một bộ xử lý 1MHz đơn giản cùng 4Kb RAM. Điều đặc biệt là Apple II có thể hỗ trợ lên đến 48Kb RAM. Đó thực sự là một bước đột phá lớn vào năm 1977.

Steve Wozniak - người thiết kế hai mẫu máy Apple I và II đã tích hợp trong chiếc Apple mới này một ổ đĩa mềm 5,25 inch, cùng phần mềm VisiCalc- một phần mềm rất hữu ích trong các tập đoàn, công ty lớn, khiến máy tính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Apple II lọt vào top những máy tính bán chạy nhất thời kì đó, khi họ bán được đến hơn 1 triệu sản phẩm, và những thế hệ sau của Apple II như Apple IIe cũng đạt được những thành công tương tự. Có thể nói, Apple II có tác động rất lớn đến ngành công nghiệp máy tính.


3. ZX Spectrum

Bên cạnh sự thành công của Timex Sinclair 1000 trong thị trường Âu-Mỹ, ZX Spectrum cũng có những đóng góp không nhỏ khi ra mắt chỉ một vài năm sau vào năm 1982. Cũng mang những thiết kế tương tự: nhỏ gọn, giá rẻ ( chỉ với 125 Bảng Anh), và bàn phím đi liền với máy. Nhưng Spectrum lại tốt hơn nhiều so với người tiền nhiệm của nó: hỗ trợ 16Kb RAM và một bàn phím chắc chắn (bàn phím ở TS 1000 là một bàn phím nhựa dẻo, rẻ tiền).

Dòng ZX Spectrum đã thực sự thành công trên toàn thế giới khi họ đã bán được hơn 5 triệu sản phẩm tính đến khi ngừng sản xuất. Với mức giá rẻ, cũng giống như TS 1000, nhiều người dân bình thường đã có thể sở hữu một chiếc máy tính cá nhân cho riêng mình, cũng có thể nói nó là chiếc máy tính đầu tiên mà nhiều người từng mua


2. IBM PC

Những chiếc máy tính chạy trên bộ vi xử lý Intel, hay chạy hệ điều hành Windows thống trị thị trường máy tính cá nhân kể từ năm 1990 đều bắt nguồn từ đây: IBM PC. Ra mắt vào năm 1981 với bộ vi xử lý Intel 8088 với tốc độ 4.77MHz và 16Kb RAM. Mặc dù không phải là hệ thống nhanh nhất nhưng nó được trang bị bộ vi xử lí 16-bit của Intel thay vì 8-bit như những máy tính cùng thời sử dụng. IBM PC có thể tương thích với các thiết bị ngoại vi hiện có và giúp mở rộng thêm bộ nhớ.

Giá ban đầu của IBM PC là 1.600 USD, khá cao nhưng thực sự đáng tiền cho một cấu hình mạnh mẽ vào thời điểm đó. IBM PC trở nên khá phổ biến, những phần mềm trong máy tính giúp tận dụng tối đa lợi thế của chúng và bộ vi xử lý Intel 8088 cũng được tối đa hóa hiệu suất. Chỉ một vài năm sau đó, hầu hết các dòng máy tính khác đều hướng đến thiết kế của IBM PC. Chúng đều hoạt động trên hệ điều hành MS-DOS và dòng vi xử lý x86 được dùng phổ biến, rộng rãi.


1. Commodore 64

Commodore 64 là mẫu máy tính bán chạy nhất mọi thời đại. Được ra mắt vào năm 1982, Commodore 64 có CPU với tốc độ 1MHz, 64Kb RAM (Commodore 64) và sở hữu cấu hình mạnh mẽ nhất so với những sản phẩm cùng thời. Hơn nữa, để sở hữu một chiếc máy tính mạnh như vậy, người dùng chỉ việc bỏ ra 595 USD, một mức giá chấp nhận được với đa số khách hàng. Thậm chí, nó còn có thể kết nối với TV, thành một máy console thật sự.

Vào thời điểm mới ra mắt, đồ họa của Commodore 64 đã đánh bại các dòng máy tính phổ biến khác như Apple II. Với mức giá khá mềm như vậy, dòng máy này được sản xuất cho đến tận năm 1994 và được đông đảo khách hàng đón nhận. Trong suốt khoảng thời gian có mặt, C64 đã bán được đến khoảng 17 triệu máy. Và chỉ trong ba năm có mặt từ 1983 đến 1986, model này chiếm thị phần từ 30% đến 40% trên toàn thế giới.

Câu chuyện nguồn gốc về chiếc máy vi tính ENIAC đầu tiên đến những cột mốc đáng nhớ của lịch sử phát triển máy vi tính.

Nguồn gốc về máy vi tính


Từ khi ra đời chiếc máy tính điện tử số đầu tiên (ENIAC – Electronic Numerical Integrator And Computer), sự phát triển của máy vi tính có thể được phân thành 5 thế hệ. Trong đó, ở thế hệ thứ nhất (1945-1956), Giáo sư Mauchly và học trò Eckert tại Đại học Pennsylvania đã thiết kế từ năm 1943 và cho ra mắt vào năm 1946 một máy tính khổng lồ với thể tích dài 20 mét, cao 2,8 mét và rộng vài mét, có khả năng thực hiện 5.000 phép toán cộng trong một giây. Sau vài năm, máy tính đã được phổ biến tại các trường đại học, các cơ quan chính phủ, ngân hàng và các công ty bảo hiểm.


Lí do bạn vẫn thường nhận được khi nghe nói tới sự ra đời của máy vi tính là để phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người. Chính xác hơn, ENIAC có gốc gác từ Chiến tranh Thế giới thứ 2, nhằm hỗ trợ công việc tính toán của các đơn vị pháo binh (góc nòng súng, điều kiện địa hình, vẽ đường đạn…) Bên cạnh đó, cũng có những nhà sử học cho rằng có những chiếc máy tính còn ra đời sớm hơn ENIAC nhiều, chẳng hạn như chiếc Z3 ở Đức, chiếc Colossus ở Anh, hay chiếc Atanasoff-Berry Computer tại bang Iowa (Mỹ). Tuy nhiên, chỉ đến “thời” của ENIAC thì mới thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu.

Những dấu mốc đáng nhớ


Mãi đến năm 1981, IBM mới cho ra mắt chiếc PC đầu tiên trong một cuộc họp báo ở Waldorf Astoria, New York. Lúc đó, chiếc máy tính nặng 21 pound (khoảng 9,5 kg) giá bán 1.565 USD. Một số đặc điểm của chiếc máy tính IBM đời đầu là bộ nhớ chỉ có 16k, có khả năng kết nối với TV, chơi game và xử lí văn bản. Có thể nói, chính IBM đã châm ngòi cho sự bùng nổ máy tính cá nhân và sự phát triển của IBM cũng phần nào thể hiện những bước tiến dài của nền tin học toàn cầu. Cùng Hotcourses điểm qua những dấu mốc quan trọng nhé!

Trước 1981


Cuối những năm 1970, công nghệ bắt đầu phát triển và giá cả cũng giảm xuống nhiều nên nhiều gia đình Mỹ đã biết tới thiết bị này. Máy tính trước những năm 1981 cồng kềnh như những chiếc thùng lớn. Các bà vợ từng dùng nó để lưu trữ các công thức nấu ăn còn những ông chồng lại xem đây là công cụ quản lí tài chính của gia đình. Trẻ con cũng làm bài tập trên máy tính và chơi một số game đơn giản. Các dòng máy tính nổi tiếng thời đó: Commodore PET, Atari 400, Tandy Radio Shack TRS-80 và Apple II.

Kỉ nguyên IBM


Dưới sự dẫn dắt của Don Estridege - cha đẻ của máy tính IBM, những chiếc PC được sản xuất từ phần cứng và phần mềm của hãng thứ 3 xuất hiện. Cụ thể, bộ vi xử lí do Intel sản xuất, hệ điều hành MS-DOS là sản phẩm của Microsoft. Suốt 10 năm sau đó, IBM đã cải tiến chiếc máy tính của mình lên rất nhiều, bằng việc nâng tốc độ lên gấp 10 lần, tăng bộ nhớ lên 1000 lần và dung lượng lưu trữ tăng 10 nghìn lần, từ 160 KB lên 1,6 GB. Máy tính IBM, đơn giản là ông tổ của tất cả PC hiện đại.

Những năm 1990


Nhiều thương hiệu lớn ra đời nên các tên tuổi máy tính như Amiga, Commodore, Atari, Sinclair and Amstrad phải “chiến đấu” trong một thị trường khốc liệt, buộc giảm giá để cạnh tranh. Hai tên tuổi mà sau này nổi như cồn có Compaq và Dell, được biết tới như những cái tên nổi lên trong thị trường máy tính nền tảng Windows. Việc ra mắt hệ điều hành Windows 3.0 rồi sau đó là Windows 95, Windows 98 đã giúp Microsoft khẳng định tên tuổi của mình trong thị trường máy tính. Tuy Apple lúc này đã có những thành công bước đầu với PowerBook, nhưng Microsoft vẫn là “bá chủ” trên thị trường PC.


Tuy nhiên, cũng nên nhớ là chính trong thời đại hoàng kim của PC mà chiếc laptop hiện chúng ta đang sử dụng đã được ra đời (dòng máy ThinkPad 700 vào năm 1992 của IBM là một ví dụ) .

Những năm 2000


Sự cố Y2K đã gây đảo lộn về định dạng thời gian cho hệ thống máy tính, tuy nhiên cuối cùng hậu quả cũng không nghiêm trọng như mọi người đoán trước. Thời điểm này còn đánh giá một sự phát triển ghê gớm không kém của Internet.


Apple ra mắt Mac OS X vào năm 2002 sau đó là PowerBooks, iBooks, iMacs, Mac Minis, MacBook Air chạy trên nền hệ điều hành này đã gặt hái những thành công lớn. Tiếp nữa, hệ điều hành Window XP cũng là một sản phẩm phần mềm thành công rực rỡ.


Nhắc tới thập niên này càng không thể quên nhắc tới những chiếc netbook và gần đây là máy tính bảng với ưu điểm nhỏ gọn, di động.

1981: IBM PC


IBM PC đã phá vỡ mọi định kiến về máy tính cá nhân với giá cả phải chăng,  khiêm tốn về kích thước.

1982: Franklin Ace 100


Chiếc máy tính này là nguyên nhân của vụ kiện bản quyền phần mềm đầu tiên trên thế giới liên quan tới các bản sao vật lý của phần cứng và hệ điều hành trên chiếc máy tính Apple II thuộc sở hữu của Apple Computer Inc.

1982: Commodore 64


Trong khoảng thời gian giữa năm 1982 và 1983, khoảng 30 triệu bản Commodore 64 đã được bán ra trên toàn cầu.

1982: ZX Spectrum


Spectrum thu hút người dùng bởi khả năng tính toán cùng với đó là các ứng dụng từ các công ty phát triển phần mềm riêng. Spectrum đã được bán ra khoảng 5 triệu chiếc tại Vương Quốc Anh.

1983: IBM PC XT


IBM PC XT là một bản nâng cấp từ IBM PC và là chiếc máy tính cá nhân đầu tiên được thiết kế đi kèm một ổ cứng lưu trữ dung lượng 10 MB. Những chiếc máy tính cá nhân sau đó đã được tuân theo tiêu chuẩn của XT.

1983: Apple Lisa


Đây là chiếc PC đầu tiên trên thế giới được thiết kế với một giao diện đồ họa. Với mức giá 10.000 USD vào thời điểm đó, không phải ai cũng có thể “sờ” tới chiếc máy tính đắt đỏ này.

1984: Macintosh


Macintosh là “ông tổ” của iMac, iPod và iPhone. Macintosh có giao diện đồ họa người dùng giống như Lisa, tuy nhiên được bán với giá thấp hơn (2.495 USD).

1990: NeXT Turbo Dimension Cube


Đây là chiếc máy tính cá nhân được kỹ sư Tim Berners-Lee sử dụng để lưu trữ World Wide Web trong thời kỳ sơ khai.

1996: Deep Blue


Sau khi thua một trận cờ vua với Garry Kasparov, các kỹ sư công nghệ của IBM đã gấp rút cải thiện "siêu máy tính" Deep Blue và sự cải tiến này đạt được thành quả ngay sau đó, khi Deeper Blue đánh bại Kasparov trong trận tái đấu vào năm 1997.

1998: iMac


Chiếc máy tính iMac trong suốt có màu sặc sỡ, cùng những đường cong, thực sự là một thành quả “cách mạng” đáng kinh ngạc vì hoàn toàn mới lạ trong thế giới màu xám của những chiếc máy tính vuông vức cùng thời.

Siêu máy tính là gì?


Trả lời cho câu hỏi siêu máy tính là gì : đó cũng một loại máy tính nhưng lại khác xa với những chiếc desktop, laptop thông thường mà bạn hay sử dụng hằng ngày. Bên cạnh việc có kích thước khổng lồ, nó còn mang sức mạnh vượt trội hơn rất nhiều lần so với các máy tính cá nhân. Cũng chính lý do đó mà siêu máy tính không bao giờ được dùng để soạn văn bản hay chơi game online mà người ta dùng nó vào việc nghiên cứu khoa học, xử lí, tính toán phức tạp.

Là một thiết bị vượt trội trong khả năng và tốc độ xử lý ; siêu máy tính hiện nay có tốc độ xử lý hàng nghìn teraflop (một teraflop tương đương với hiệu suất một nghìn tỷ phép tính/giây) hay bằng tổng hiệu suất của 6.000 chiếc máy tính hiện đại nhất hiện nay gộp lại (một máy có tốc độ khoảng từ 3-3,8 gigaflop).


Siêu máy tính là gì? Đây là hệ thống siêu máy tính của IBM

Theo những nguồn thông tin, vào năm 1960, vị kiến trúc siêu máy tính được một kĩ sư người Mỹ tên là Seymour Cray làm việc cho tổ chức Control Data Corporation (CDC) thiết kế và chiếc CDC 6600 ra mắt năm 1964 được xem là siêu máy tính – supercomputer đầu tiên của thế giới. Vị kiến trúc người Mỹ được tôn vinh là cha đẻ của siêu máy tính.

Siêu máy tính có những loại gì?


Có rất nhiều băn khoăn câu hỏi siêu máy tính là gì thì cũng sẽ có người muốn biết siêu máy tính có những loại gì. Câu trả lời là nó bao gồm 2 loại: Loại thứ nhất là sử dụng một lượng lớn CPU đặt gần nhau, và người ta gọi đây là computer cluster và đây là kiểu điện toán tập trung. Những CPU này thường nằm trong nhiều máy tính giống nhau, lân cận nhau (gọi là các node, node card hay computer node) và chúng được kết nối nhằm tạo ra một hệ thống lớn hơn, hoàn chỉnh hơn. Người ta xem cả hệ thống như một siêu máy tính duy nhất. Đây loại cũng đang chiếm hơn 80% siêu máy tính trên toàn cầu.


Những siêu máy tính mạnh nhất thế giới

Ngoài ra loại siêu máy tính thứ hai sử dụng nhiều máy tính nhỏ nằm xa nhau về mặt địa lý. Người ta sẽ kết nối chúng thành một mạng lưới, khi đó công việc sẽ được chia ra cho tất cả những chiếc máy này xử lý. Có một máy chính (Control Node) nằm ở giữa làm nhiệm vụ điều khiển và phân bổ tác vụ cho các máy con.

Sức mạnh của máy tính cá nhân và siêu máy tính khác nhau rất nhiều, như một chiếc xe ô tô có người lái và một chiếc xe được điều khiển từ xa. Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, nhiều  máy tính được tạo ra để cho nhiều mục đích khác nhau và tùy vào như cầu của mỗi người.


Giờ thì bạn đã biết siêu máy tính là gì rồi chứ? Nó thực sự là chiếc máy tính vượt trội trong khả năng và tốc độ xử lý siêu máy tính sinh ra chỉ phục vụ cho một vài mục đích duy nhất.

Chia sẻ Facebook