Hoàng hậu Ấn Độ

Chia sẻ Facebook
30/08/2019 01:58:20

Vinh quang và hùng vỹ đã đưa tên tuổi của lăng mộ Taj Mahal đứng sánh ngang hàng với bất kỳ kiến trúc tiêu biểu nào khác trên thế giới: Tòa lăng mộ khổng lồ dựng bằng đá cẩm thạch trắng của hoàng đế Mughal Shah Jahan và hoàng hậu Mumtaz Mahal nổi bật trên nền trời và nhìn thấy nó là người ta biết đó là Ấn Độ.


Cuộc sống vương giả kiểu mẫu

Hoàng hậu Gayatri Devi vốn nổi tiếng với vẻ đẹp hoàn hảo và là biểu tượng thời trang của Ấn Độ

Gayatri Devi sinh năm 1919 tại thành phố London (Anh Quốc) và lớn lên ở Jaipur, thủ phủ Tiểu vương quốc Rajasthan ở phía Bắc Ấn Độ, trong một gia đình dòng dõi hoàng tộc.

Cha bà là Hoàng tử Jitendra Narayan xứ Cooch Behar, Tây Bengal, và mẹ bà là Công chúa Indira Raje nổi tiếng xinh đẹp.

Devi thừa hưởng tính cách độc lập, mạnh mẽ từ mẹ và được nuôi dạy theo chủ nghĩa nữ quyền. Ngay từ nhỏ, Devi là một cầu thủ Polo giỏi và cũng là một tay đua xuất sắc. Bà bắn hạ con báo đầu tiên trong đời khi chỉ mới 12 tuổi. Đó cũng là lúc bà gặp được người chồng tương lai, hoàng tử Sawai Man Singh II.

Gayatri Devi và hoàng tử Sawai Man Singh II.

Sau khi kết hôn với Sawai Man Singh vào năm 1940, Gayatri Devi trở thành hoàng hậu ở Jaipur và giữ cương vị này đến năm 1970.

Đám cưới của bà được tổ chức trong suốt một tuần lễ, trở thành đại hôn lễ xa hoa nhất trong lịch sử Ấn Độ với những món quà mừng cưới trị giá hàng triệu USD như xe Bentley, ô tô thể thao hạng sang hiệu Packard hay cả một dinh thự nghỉ mát…


Một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn

Vốn là người ủng hộ nữ quyền, năm 1943, Devi thành lập một trường học dành cho nữ sinh mang tên mình. Hiện nay, đây là trường học danh giá nhất Ấn Độ.

Gayatri Devi được xem là nữ hoàng sắc đẹp của Ấn Độ thế kỷ trước. Bà có tên trong danh sách 10 người phụ nữ đẹp nhất thế giới do tạp chí Vogue bình chọn.

Cuộc đời bà pha trộn giữa lối sống cung đình hết sức tôn nghiêm ở Jaipur và phong cách hiện đại theo phương Tây với những chiếc máy bay riêng, các bữa tiệc cocktail linh đình và nhiều chuyến đi mua sắm thỏa sức ở trung tâm London (Anh).

Devi mang vẻ đẹp cổ điển song cũng là một biểu tượng thời trang của đất nước Ấn Độ hiện đại. Trả lời tờ Thời báo Ấn Độ, Devi cho biết, bà tự tạo phong cách thời trang cho riêng bản thân và lấy một phần cảm hứng từ cách ăn mặc của mẫu thân của bà - người đầu tiên mặc áo sari bằng vải chiffons.


Cuộc tranh chấp tài sản ly kỳ

Báo chí địa phương cho biết, sau khi Devi mất, cánh cửa thông giữa hai tòa nhà đã được xây gạch bít kín. Đây là bằng chứng cho thấy, đại gia đình hoàng tộc đã bắt đầu nảy sinh những tranh chấp pháp lý phức tạp.

Đài BBC ước tính số tài sản bà Devi để lại có giá trị từ 200-400 triệu USD, trong đó có một số cung điện đã được chuyển thành khách sạn hạng sang.

Theo di chúc, hai người cháu nội của bà Devi sẽ là những người thừa kế số tài sản khổng lồ này, do người con trai duy nhất của bà đã mất từ năm 1997. Vì thế, cái chết của hoàng hậu Ấn Độ đã châm ngòi cho vụ tranh chấp tài sản quyết liệt giữa 2 người cháu Devraj Singh, Lalitya Kumari với các hậu duệ khác của chồng bà.

Gayatri Devi được xem là nữ hoàng sắc đẹp của Ấn Độ thế kỷ trước, có tên trong danh sách 10 người phụ nữ đẹp nhất thế giới do tạp chí Vogue bình chọn.

Những người con riêng của Quốc vương Man Singh II cho rằng, di chúc được viết lúc người mẹ kế đã già yếu, đầu óc không minh mẫn và họ muốn được hưởng một phần tài sản.

Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Ấn Độ đã giữ nguyên phán quyết ủng hộ quyền thừa kế của hai người cháu.

Sau phán quyết, ông Devraj Singh cho biết, trong những năm qua, ông và em gái chỉ muốn đòi lại số tài sản của cha mình và không cần gì hơn.


Sự thật về "hoàng gia kiểu mẫu"

Gayatri Devi thực ra là người vợ thứ ba của Man Singh. Tước vị nhà vua Jaipur được truyền cho Bhawani Singh, con trai của bà vợ cả. Những chi khác trong dòng tộc này vẫn kiểm soát các hoạt động bất động sản ở Jaipur.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí trước đây, Devi tiết lộ rằng, Bhawani Singh đối xử với mình rất lạnh nhạt, đúng kiểu "mẹ ghẻ, con chồng".

Ảnh chụp Devi đang tập luyện bộ môn Polo.

Những thông tin này đối nghịch hoàn toàn với hình ảnh mà công chúng biết tới về gia đình hoàng tộc Jaipur.

[TIKI] SIÊU THỊ TÃ BỈM - QUÀ XINH CHO BÉ

Người ta luôn xem đó như một gia đình lý tưởng, không bao giờ tỏ ra trịch thượng hay phân biệt đối xử giữa người giàu và người nghèo. Đối với gia đình này, dường như không có sự phân biệt giữa các tầng lớp trong xã hội, rất khác so với gia đình Hoàng gia Anh hay gia tộc Kennedy đến từ Mỹ.

Thế nhưng trên thực tế, bất đồng và tranh chấp mang tính pháp lý đã liên tục xảy ra trong những năm cuối đời của Devi. Con trai bà từng xung đột với Bhawani Singh về quyền sở hữu một số tài sản và vụ việc phải đưa ra phân xử tại Tòa án tối cao.

Bất đồng và tranh chấp mang tính pháp lý đã liên tục xảy ra trong những năm cuối đời của Devi.

Ngoài ra, vào năm 2006, người cháu trai Devraj đâm đơn kiện cho rằng, cổ phần của hai khách sạn lớn tại Jaipur của cha mình đã bị người chú Prithviraj thao túng. Cụ thể, cổ phần khách sạn cung điện Jai Mahal đã giảm từ 99% xuống còn 7%, trong khi cổ phần của ông Prithviraj đã tăng đến 93%.

Bản thân bà Devi cũng bất hòa với nàng dâu người Thái và bị cáo buộc là đã tìm cách giành lại số tài sản mà cô này được hưởng. Tờ Deccan Herald từng có bài mô tả chi tiết cái chết của Jagat Singh và cho biết Devi, dù khi đó bị suy sụp hoàn toàn, đã tìm mọi cách ngăn không để con dâu và cháu nội được hưởng khối tài sản thừa kế.

Cái chết của hoàng hậu Ấn Độ Gayatri Devi đã vạch trần sự thật ít người biết về hoàng cung Ấn Độ, đằng sau sự xa hoa, lộng lẫy đó là một gia tộc đầy xung đột, mâu thuẫn, tính toán và tranh chấp.


Đại sảnh ở Burhanpur - nơi di hài hoàng hậu Mumtaz Mahal được quàn trong suốt 6 tháng


Nhà vua nặng lòng yêu vợ

Nằm cách đó độ 500 dặm đường ở phía Tây Nam các đường phố náo nhiệt ở Agra (tiểu bang Madhya Pradesh) lại là thành phố hẻo lánh, buồn tẻ Burhanpur, nơi từng giữ một chương rất khác về cuộc sống ở thế giới bên kia của cố hoàng hậu Mumtaz. Ở đó, ngập trong dòng khách du lịch, là tàn tích lung linh của Ahukhana – nơi an giấc ngàn thu ban đầu của hoàng hậu Mumtaz.


Lão ông Mohammed Shehzada Asif Khan, 72 tuổi, nhiếp ảnh gia, người từng tổ chức Lễ hội tôn vinh Mumtaz Mahal ở Burhanpur trong vòng 40 năm qua, không giấu niềm tự hào cho biết: “Với tư cách là đại diện cho các cư dân của nền văn minh cổ đại rực rỡ, tận đáy lòng chúng tôi biết ơn sâu sắc đến di sản văn hóa của ông cha. Nhưng với con số từ 7 đến 8 triệu lượt du khách đổ về Taj Mahal mỗi năm, nhưng không một ai hay biết về sự tồn tại của Ahukhana, lăng mộ đầu tiên của hoàng hậu Mumtaz Mahal ”.

Kiến trúc Ahukhana được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16 dùng làm công viên nuôi dưỡng hươu nai cho hoàng đế Shah Jahan. Vườn thượng uyển nằm trườn trên khuôn viên lên tới 6 dặm, nó bao gồm 2 khối cấu trúc chính, một tòa cung điện nhỏ được trang trí với hình hoa văn gân lá cây cùng với một hàng cột trụ được biết đến dưới cái tên Baradari. Chính cái Baradari này là nơi đã tiệm di hài của hoàng hậu

Mumtaz khoảng 6 tháng sau khi bà qua đời. Tuy nhiên đến ngày nay, tòa lăng mộ bị bỏ hoang phế với cỏ dại mọc bạt ngàn, những vách tường vẽ lam nham chữ graffiti, các hàng cột xuất hiện nhiều vết nứt đáng báo động. Hoàng đế Shah Jahan cai trị một đế quốc rộng lớn từ thủ đô Delhi ở phía Bắc đất nước.

Cuối thập niên 1620, đế quốc của nhà vua bị bao vây bởi những cuộc nổi dậy từ các vương quốc Deccani ở miền Nam Ấn. Nhằm dập tắt tình trạng bất ổn, Shah Jahan đã thiết lập một trung tâm chỉ huy ở Burhanpur (cửa ngõ dẫn vào miền Nam Ấn Độ, nơi nổi tiếng với sản phẩm vải hoa và “hang ổ” thuốc phiện), và trực tiếp điều binh khiển tướng từ chính thành phố này trong suốt 2 năm.

Hoàng đế Shah Jahan sống ở cung điện lớn Shahi Qilla trên bờ sông Tapti nằm không xa vườn hươu. Trong chính tòa cung điện đó hoàng hậu Mumtaz đã tạ thế đột ngột trong lúc hạ sinh đứa con thứ 14 vào ngày 17 tháng 6 năm 1631. Về chuyện này, có đoạn viết: “Suy nhược vì bị băng huyết, hoàng hậu Mumtaz thì thào vào tai người chồng đang tột cùng đau khổ vì yêu vợ, nàng cầu xin chàng đừng lấy vợ nữa.

Lời đề nghị cuối cùng của hoàng hậu là xây cho nàng một lăng mộ như bối cảnh thiên đường trên Trái đất như những gì mà trong các giấc mơ của hoàng hậu đã trải qua. Các quan trong triều đình Shah Jahan đã tỉ mỉ ghi chép lại hoàn cảnh về cái chết của hoàng hậu chỉ vài phút sau khi bà sinh con gái: Khi mang viên trân châu cuối cùng, thân thể hoàng hậu như hệt một con trai”.

Một tuần sau khi hoàng hậu Mumtaz tắt hơi, hoàng đế Shah Jahan không thiết triều, có vẻ như cuộc sống không còn có gì có thể khiến ngài lưu luyến nữa. Sử gia Nandkishore Devda cho biết: “Triều đình cấp tập lo tang lễ cho hoàng hậu, các quan lại đều bận y phục trắng. Sầu muộn vì thương vợ vắn số đến nỗi tóc của vua Shah Jahan chuyển sang xám bạc chỉ trong một đêm, và 2 năm tiếp theo đó nhà vua càng không ngó ngàng gì tới các thú vui trần thế.

Vào dịp lễ hội Eid, nhà vua đau khổ khóc than, ngậm ngùi buồn bã trước sự mất mát của người vợ mà người nhất mực yêu dấu”. 6 tháng sau ngày mất, xác của hoàng hậu Mumtaz được ướp như thể người đang còn sống ngay tại Ahukhana. Vào mỗi thứ Sáu hàng tuần, nhà vua đọc kinh cầu an Fateha cầu mong linh hồn vợ nhanh siêu thoát tại Baradari.


Hoang tàn phế tích Ahukhana

Thời kỳ đó, Ahukhana được dùng làm nơi nghỉ mát của hoàng gia Mughal, nơi đây có những đài phun nước cùng những dòng kênh rải đầy cánh hoa hồng. Khu phức hợp Baradari được xây dựng tuyền bằng đá sa thạch màu hoa hồng và được trang trí lộng lẫy bằng vô số bức bích họa tinh xảo. Cảnh sắc huy hoàng đó ngày nay không còn nữa.

Một tuyến đường mòn đầy bùn dẫn vào phế tích, nơi đây hầu như không thể lui tới chí ít là vào mùa mưa. Vì không được duy tu đúng cách thế nên dù mang tầm quan trọng lịch sử, nhưng không có nhiều du khách đến thăm Ahukhana, lác đác chỉ độ 80 đến 100 người mỗi tháng mà thôi. Mặc dù khảo sát, nhưng ban quản lý lại không bỏ tiền sửa chữa nên thành thử tình hình càng thêm tồi tệ.


Lý do xây dựng lăng mộ Taj Mahal

6 tháng sau khi hoàng hậu Mumtaz qua đời, vào ngày 14 tháng 12 năm 1631, một đoàn tang lễ hoành tráng đã một lần nữa di quan hoàng hậu từ Burhanpur đến Agra. Suốt 22 năm cho tới khi lăng mộ Taj Mahal được hoàn thiện (năm 1653), xác ướp của hoàng hậu đã được giữ bí mật ở đâu đó trên bờ sông Yamuna.

Tuy nhiên đối với cư dân ở Burhanpur, lăng mộ đầu tiên của cố hoàng hậu còn hơn cả một nhà mồ, nó là một phần kho báu trong lịch sử của Mughal theo một lẽ riêng. Burhanpur là nơi có số đông đảo người dân đam mê di sản, họ chỉ ra rằng tòa lăng mộ trắng ngà Taj Mahal có thể đã được dựng lên thay cho Ahukhana. Ông Rafiq Shaikh, cư dân Burhanpur tròn 52 tuổi, người nặng lòng với các câu chuyện dân gian, cho rằng có 3 lý do để hoàng đế Shah Jahan không dùng Burhanpur là nơi an táng vĩnh viễn người vợ yêu dấu của mình.

3 lý do đó là: “Cát ở Burhanpur đa phần là bị nhiễm mối không thích hợp để giữ ổn định cho một cấu trúc khổng lồ; Đá cẩm thạch dùng để dựng lăng mộ Taj Mahal được chuyển tới từ Rajasthan, nơi này nằm gần Agra hơn; Hoàng đế muốn hình ảnh của tòa lăng mộ phản chiếu xuống dòng sông khi nó được xây dựng xong. Vì dòng sông Tapti ở Burhanpur có dòng chảy hẹp hơn sông Yamuna, vì thế để giúp thu hút vẻ đẹp lung linh của Taj Mahal, hoàng đế Shah Jahan đã chốt chọn Agra”.

Đối với người dân ở Burhanpur, phế tích Ahukhana vẫn còn đáng giá, và nhiều hải cảng giàu có mong muốn bảo vệ nó. Gần đây, Bộ Du lịch Ấn Độ đã khởi động một dự án gọi là “Chấp nhận di sản”, trong đó kêu gọi các cá nhân quyên tiền bạc để dùng vào việc duy tu Ahukhana, nơi này sẽ có các tiện nghi cơ bản và tiên tiến tùy thuộc vào tiến độ sửa chữa kịp thời.

Ông Mahajan tự hào nói: “Chúng tôi đang nghiên cứu về công tác hậu cần, và kêu gọi những người quan tâm đầu tư thêm về thời gian và tiền bạc để bảo vệ Ahukhana. Thành phố chúng tôi ăn sâu vào lịch sử triều đại Mughal và chúng tôi hy vọng một ngày nào đó thế giới sẽ thừa nhận tầm quan trọng văn hóa này”.

Đất nước Ấn Độ nổi tiếng là miền đất sản sinh ra những người phụ nữ có nhan sắc xinh đẹp xuất chúng, nhưng cho đến ngày hôm nay, Hoàng hậu Gayatri Devi vẫn luôn là biểu tượng tuyệt vời nhất của nhan sắc lẫn trí tuệ. Bà đã ghi dấu ấn sâu sắc trong lịch sử bằng sự cống hiến không ngừng nghỉ đối với các hoạt động chính trị của đất nước, những cuộc đấu tranh vì nữ quyền, vì người nghèo của Ấn Độ.


Hoàng hậu Gayatri không chỉ nhận được tình cảm yêu mến từ người dân Ấn Độ mà trên diễn đàn chính trị thế giới, bà đã khiến cho cánh đàn ông phải thật sự nể phục, thậm chí cựu Tổng thống Mỹ John F. Kennedy từng giới thiệu về bà Grayatri là: "Người phụ nữ giành được đa số phiếu bầu một cách đáng kinh ngạc nhất trong cuộc bầu cử".

Bà Gayatri Devi sinh ngày 23/5/1919 tại London. Bà xuất thân trong gia đình dòng dõi hoàng tộc với bố là Hoàng tử Jitendra Narayan xứ Cooch Behar, Tây Bengal, và mẹ là Công chúa Indira Raje của Baroda. Bà từng theo học và tốt nghiệp tại nhiều ngôi trường danh tiếng tại Anh và Thụy Sĩ. Do được tiếp xúc với văn hóa tiến bộ của Tây phương cũng như được mẹ truyền dạy tư tưởng nữ quyền nên ngay từ khi còn rất bé, bà Gayatri đã luôn thể hiện là một cô gái có tính cách mạnh mẽ, độc lập.

[SENDO] SIÊU VOUCHER TRẢ GÓP 0%


Trái với khuôn mẫu tiểu thư ủy mị mà mọi người vẫn tưởng tượng, bà Gayatri lớn lên với niềm đam mê với bộ môn bóng Polo và đua ngựa, thậm chí còn là một vận động viên khá xuất sắc. Bên cạnh đó bà còn yêu thích việc săn bắn và sau này còn rất thích chơi xe hơi. Được biết bà là người đã cho nhập khẩu chiếc xe Mercedes-Benz W126 đầu tiên vào Ấn Độ, ngoài ra bà cũng sở hữu nhiều xe Rolls Royce và máy bay.


Giống như mẹ mình, bà Gayatri không chấp nhận định kiến xã hội dành cho bậc nữ nhi, bà tin tưởng vào việc kết hôn vì tình yêu và đã đi theo tiếng gọi của trái tim mình. Hôn lễ của bà Gayatri và Sawai Man Singh II vào năm 1940 dù vấp phải nhiều ý kiến phản đối nhưng cuối cùng bà cũng vượt qua tất cả để trở thành hoàng hậu Jaipur và giữ cương vị này đến năm 1970.

Sau khi trở thành hoàng hậu, bà Gayatri đã dành toàn bộ tâm huyết của mình cho các hoạt động xã hội và thiện nguyện. Bên cạnh việc đồng hành cùng chồng trong các sự kiện ngoại giao, bà cũng đã đấu tranh mạnh mẽ, bảo vệ phụ nữ và người dân ở tầng lớp nghèo khổ trong xã hội.


Năm 1943, bà Gayatri đã cho xây dựng một ngôi trường dành riêng cho nữ sinh trong nỗ lực mang đến kiến thức và sự bình đẳng cho phụ nữ. Bà tin tưởng rằng chỉ có giáo dục và sự hiểu biết mới có thể giúp cho cuộc sống của phụ nữ Ấn Độ trở nên độc lập hơn, tương lai của họ cũng tươi sáng hơn. Hiện nay ngôi trường mang tên Gayatri Devi được xem là một trong những nơi có hệ thống giáo dục tốt nhất tại Ấn Độ.

Năm 1947, chế độ quân chủ Ấn Độ bị lật đổ, chế độ các tiểu vương quốc và tước vị cũng bị bãi bỏ. Bà Gayatri từ đó bắt đầu dấn thân vào chính trường và nhanh chóng chứng minh được thực lực và sức ảnh hưởng của mình không hề thua kém bất cứ một người đàn ông nào.

Năm 1970, Sawai Man Singh II qua đời đã khiến cho bà Gayatri chịu một cú sốc không hề nhỏ. Đến năm 1975, trong chương trình Emergency của nữ Thủ tướng Indira Gandhi, bà Gayatri đã vướng vào một số cáo buộc sai về thuế và phải trải qua 6 tháng trong tù. Sau khi được thả ra, bà cũng từ giã luôn sự nghiệp chính trị.


Những năm sau đó, bà Gayatri vẫn tiếp tục các hoạt động đấu tranh vì quyền lợi của các tù nhân đang phải sống trong điều kiện tồi tệ trong nhà tù cũng như các chương trình vì phúc lợi cộng đồng. Bà đã tạo được ảnh hưởng không nhỏ trong việc phản đối hệ thống Purdah đang kìm hãm phụ nữ trong xã hội. Trong lĩnh vực văn hóa, bà Gayatri là người có công khôi phục và bảo tồn nghệ thuật làm gốm xanh cổ truyền và đang dần mai một tại Ấn Độ.


Không chỉ là một người phụ nữ có trí tuệ xuất chúng, bà Gayatri còn có một gu thời trang tân tiến, được xem là biểu tượng của sắc đẹp và phụ nữ hiện đại lúc bấy giờ. Tạp chí thời trang danh tiếng Vouge từng bình chọn Gayatri là một trong 10 người phụ nữ đẹp nhất thế giới.


Phong cách ăn mặc thời thượng của Gayatri mang tư tưởng phóng khoáng của mẹ bà. Không bao giờ bị bó buộc trong trang phục sari truyền thống hay mạng che mặt, bà Gayatri luôn biết cách thể hiện cá tính với trang phục mang hơi hướm phương Tây mạnh mẽ và thanh lịch cùng quần tây, áo sơ mi, đồ thể thao… Những chiếc sari mà bà Gayatri chọn lựa cũng được cách tân khéo léo nhưng không hề mất đi vẻ đẹp truyền thống và duyên dáng vốn có của chúng.


Ngày 29/7/2009, bà Gayatri Devi qua đời do viêm ruột và nhiễm trùng phổi khiến cho người dân trên toàn Ấn Độ đau buồn vô hạn. Theo BBC, khối gia sản sau khi chết do bà Gayatri để lại có giá trị đến 400 triệu USD. Bà và chồng chỉ có duy nhất một người con trai nhưng đã sớm qua đời vào năm 1997 nên tài sản được chia cho 2 người cháu nội. Cũng từ số gia tài khổng lồ này mà sau đó đã xảy ra liên tiếp các vụ tranh chấp, kiện tụng quyết liệt giữa người thừa kế và các hậu duệ khác của chồng bà.

Thành phố Ayodhya, nổi tiếng bởi là nơi sinh ra vị thần Ram trong Hindu, nơi đây cũng mang một ý nghĩa đặc biệt với một số người dân Hàn Quốc, những người tin rằng họ có thể tìm về cội nguồn từ thành phố này. Niềm tin này bắt đầu từ những câu chuyện lịch sử của người Hàn Quốc, kể về nàng công chúa Ấn Độ, Suriratna, người đã kết hôn với một vị vua Hàn Quốc và khởi nguồn một triều đại.

Huyền thoại kể rằng, Công chúa Suriratna, còn được gọi là Hoàng hậu Heo Hwang-ok (Hứa Hoàng Ngọc), đã tới Hàn Quốc khoảng 2000 năm về trước, và đã bắt đầu vương triều Karak khi kết hôn với vị vua nơi đây.

Một vài văn tự tiếng Hoa cho rằng, thời kỳ đó, Vua Ayodhya của Ấn Độ đã mơ rằng Thượng Đế lệnh cho ông cử cô con gái 16 tuổi tới thành Gimhae, Hàn Quốc để kết hôn với Vua Kim Suro.

Cuốn sách nổi tiếng của Hàn Quốc “Samguk Yusa” (Memorabilia of the Three Kingdoms) bao gồm những câu chuyện ngụ ngôn và tích cổ, cũng nhắc tới câu chuyện Hoàng hậu Heo Hwang-ok là công chúa của vương quốc “Ayuta”. Vua và Hoàng hậu sống trong thịnh vượng, thọ hơn 150 tuổi và có 10 con trai.

Công chúa Suriratna. (Ảnh: Twitter/ BBC)

Nhà nhân chủng học Kim Byung-mo Ayuta đã xác nhận niềm tin Ayuta thực sự là Ayodhya, vì hai cái tên giống nhau về mặt ngữ âm. Tuy nhiên không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy công chúa thực sự tồn tại, theo BBC.

“Câu chuyện về nguồn gốc của bà ấy được xem là một huyền thoại và không được coi là lịch sử theo các học giả. Đã có một số biến thể hư cấu về câu chuyện vì có nhiều chỗ là tưởng tượng”, David Cann thuộc kênh BBC Hàn Quốc cho hay.

Họ Kim là một họ phổ biến tại Hàn Quốc, và Vua Kim Suro được xem là tổ tiên của gia tộc họ Kim tại Gimhae (Kim Hải). Ngày này, các nhà sử học cho rằng, con cháu của Vua Kim Suro và Hoàng hậu Heo Hwang-ok đã có hơn 6 triệu người, chiếm khoảng 10% dân số Hàn Quốc.

“Theo truyền thống Hàn Quốc, những đứa trẻ thường mang họ cha, điều này khiến hoàng hậu buồn bã bởi con cái không thể mang họ của bà. Truyền thuyết kể rằng, vì vậy 2 trong số những người con trai của vua và hoàng hậu đã lấy họ (Heo) của mẹ, và những họ đó vẫn thông dụng cho tới ngày nay”, theo ký giả Minji Lee của kênh BBC Korean Service.

Thần dân triều đại Karak cũng đã bảo vệ những tảng đá được cho là công chúa đã sử dụng trong hành trình vượt biển tới Hàn Quốc, những hòn đá để giúp cho thuyền của bà được cân bằng trên biển. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Kim Young-sam và Kim-Dae Jung, và cựu Thủ tướng Kim Jong-Pil đều tuyên bố tổ tiên của họ là vương triều Karak.

Tổng thống Hàn Quốc cùng Đệ nhất Phu nhân tới thăm đền Akshardham tại New Delhi. (Ảnh: PTI/ firstpost)

Liệu truyền thuyết có phải là sự thật lịch sử

Một số người cho rằng họ đã nghe về huyền thoại này nhưng họ không nghĩ rằng đó là một câu chuyện được nhiều người biết đến, bởi nó đã lùi về quá xa trong quá khứ. Một số người khác đoán rằng công chúa thực sự đến từ Thái Lan bởi Ayuta có thể là Vương quốc Ayutthaya của người Thái.

Tuy nhiên, đã có một thoả thuận phát triển hai thành phố Ayodhya (Ấn Độ) và Gimhae (Hàn Quốc) như là 2 thành phố chị em vào năm 2000. Sau đó, vào năm 2001, hơn 100 sử gia và các đại diện chính phủ, bao gồm Đại sứ Triều Tiên tại Ấn Độ, đã công bố đài tưởng niệm Hoàng hậu Hwang-ok trên bờ phía tây sông Saryu tại Ayodhya.

Hàng năm, những người tự nhận là dòng dõi của hoàng hậu đã tới di tích Ayodhya nhằm vinh danh công chúa tại cố hương của bà. Vào năm 2016, một phái đoàn Hàn Quốc đã gửi đề xuất tới chính phủ Uttar Pradesh (Cộng hoà Ấn Độ) để xây dựng thêm một đài tưởng niệm.

Chuyến thăm Ayodhya là một phần trong chuyến thăm Ấn Độ từ 4-7/11 của Đệ nhất Phu nhân Hàn Quốc Kim Jung-sook sẽ đánh dấu sự khởi đầu việc nâng cấp di tích – dự án chung giữa Hàn Quốc và Ấn Độ.

Giáo sư Kim-do Young, một chuyên gia nghiên cứu về người Triều Tiên tại Delhi, nói rằng, lịch sử chung bắt đầu được công nhận tại Ấn Độ “sau khi mối quan hệ ngoại giao và kinh tế” giữa hai nước phát triển. Câu chuyện về Hoàng hậu Hwang-ok đã và đang là “nền tảng cho việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn” giữa Ấn Độ và Hàn Quốc.

Hoàng hậu Gayatri Devi được biết đến với vẻ đẹp hoàn hảo, tuyệt mỹ. Bà sinh năm 1919 tại thành phố Jaipur và xuất thân là công chúa của xứ Cooch Behar. Cha của bà là hoàng tử Jitendra Narayan, còn mẹ là công chúa Indira Raje. Dù sinh ra trong một gia đình quý tộc, giàu có nhưng trong suốt cuộc đời, Gayatri Devi luôn dùng hết tất cả khả năng của mình để giúp đỡ, đấu tranh cho những người người nghèo ở Ấn Độ.

Hoàng hậu Gayatri Devi


Trong cuốn tự truyện mang tên Hồi Ức Của Công Chúa , Gayatri Devi kể rằng mình có đến 100 huấn luyện viên voi, 20 người làm vườn, 1 huấn luyện viên quần vợt và vô số kẻ hầu người hạ,...

Khi còn nhỏ Gayatri Devi có rất nhiều kẻ hầu người hạ

Bà từng học tại những ngôi trường danh giá hàng đầu ở các nước như Anh, Thụy Sỹ,... Không những thế, Gayatri Devi cũng có gu ăn mặc và phong cách rất thời thượng. Bà từng chia sẻ rằng phong cách ăn mặc sành điệu của bà một phần nào đó là do ảnh hưởng từ mẹ mình.

"Từ khi còn bé, mẹ luôn là hình mẫu của tôi, tôi đã được xem rất nhiều bộ trang phục của bà. Mẹ rất kén trong việc chọn lựa quần áo. Bà là người đầu tiên mặc saris làm bằng vải chiffon.

Tuy nhiên niềm đam mê lớn nhất của mẹ tôi chính là giày, bà có đến hàng trăm đôi giày nhưng vẫn tiếp tục đặt mua giày từ Ferragamo, Florence. Bà luôn biết nơi nào tốt nhất có bán những thứ yêu thích và mua chúng ở khắp nơi trên thế giới. Tôi nghĩ mình đã học hỏi về phong cách ăn mặc từ mẹ. Mẹ đã dạy tôi tất cả về thời trang".

Gu ăn mặc sành điệu, quý phái của Gayatri Devi được cho là có ảnh hưởng từ thân mẫu.

Từ khi còn trẻ, Gayatri Devi đã nổi tiếng là một người phụ nữ kiên cường, mạnh mẽ và rất có chính kiến.

Ngay từ nhỏ Gayatri Devi đã có tính cách độc lập, mạnh mẽ và rất có chính kiến, đặc biệt rất thích cưỡi ngựa, săn bắn. Bà đã bắn hạ được một con báo khi chỉ mới 12 tuổi và cũng bắt được rất nhiều con thú khác trước đó.

Năm 12 tuổi Gayatri Devi đã bắn hạ được một con hổ

Ngoài ra Gayatri Devi cũng rất thích đi du lịch. Vào mùa hè bà thường đến sống trong một căn nhà nhỏ ở Knightsbridge còn mùa đông thì ở Lilypool, Jaipur. Devi đặc biệt thích thú với việc cưỡi ngựa, bà trở thành một tay đua giỏi với kỹ năng chơi polo tuyệt vời. Chính nhờ sở thích đua ngựa này mà về sau bà đã kết hôn với hoàng tử Sawai Man Singh II khi cả hai có chung niềm yêu thích.

Hoàng tử Singh II sinh ngày 21/8/1912, là con trai thứ hai của vua Isarda Sakuwa Singh. Sau khi cha qua đời vào năm 1922, Singh II trở thành vị vua mới của Ấn Độ. Ông tại vị 20 năm cho đến khi chế độ quân chủ bị lật đổ.

Hoàng tử Singh II

Năm 1940 Gayatri Devi kết hôn với hoàng tử Sawai Man Singh II và trở thành hoàng hậu của Ấn Độ. Đám cưới của hai người được coi là đám cưới xa hoa và tốn kém nhất trong lịch sử đất nước này.

Đám cưới của hai người được tổ chức kéo dài trong suốt một tuần

Trước khi Singh II lấy Gayatri Devi, ông đã có hai người vợ và Devi là người vợ thứ ba. Được biết Gayatri Devi và Singh II đều yêu thích polo, vì vậy họ vừa nói chuyện đã rất hợp nhau, sau đó nhanh chóng tìm hiểu và đi đến kết hôn.

Sau khi kết hôn, hoàng hậu Gayatri Devi nhờ ngoại hình xinh đẹp cùng với phẩm hạnh đoan trang đã nhanh chóng trở thành nhân vật mang tính biểu tượng của hoàng gia Ấn Độ. Thậm chí bà còn được tạp chí Vogue bình chọn là một trong những người phụ nữ đẹp nhất thế giới.

Vẻ đẹp thanh lịch và duyên dáng hoàng hậu Gayatri Devi

Hoàng hậu Gayatri Devi và vợ cựu tổng thống Mỹ Jacqueline Kennedy


Khi nghe về thành tích của Gayatri Devi, cựu tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã giới thiệu bà như: "Người phụ nữ đáng kinh ngạc nhất mà chúng ta tìm ra được trong cuộc bầu cử!"

Gayatri Devi không chỉ đẹp mà còn rất tài năng

Hoàng hậu Gayatri Devi được coi là người phát ngôn cũng như bảo vệ cho những phụ nữ bị phân biệt đối xử ở Ấn Độ. Hơn thế nữa, bà rất quan tâm đến giáo dục cho phụ nữ và đã cho xây dựng một trường nữ sinh vào năm 1943.

Ngôi trường nữ sinh này mang tên Gayatri Devi (theo tên của bà), gồm có 40 học sinh nữ và 1 giáo viên dạy tiếng Anh. Hiện nay, trường Gayatri Devi được biết đến là một trong những ngôi trường có hệ thống giáo dục tốt nhất tại Ấn Độ.

Hoàng hậu Gayatri Devi luôn đấu tranh cho quyền lợi của những người nghèo khổ ở Ấn Độ và được dân chúng hết mực yêu quý.

Bà luôn dành thời gian gặp mặt, nói chuyện và lắng nghe những chia sẻ về cuộc sống của mọi người.

Năm 1970 chồng bà đột ngột qua đời trong một trận chơi polo. Đến năm 1997, con trai duy nhất của bà là hoàng tử Jagat Singh cũng mất ở London. Sự ra đi của hai người yêu thương nhất tạo ra một cú sốc lớn với Gayatri Devi.

Vua Singh II chụp ảnh bên hoàng hậu Gayatri Devi và con trai

Hình ảnh khi về già của vị hoàng hậu Ấn Độ

Ngày 29/7/2009, hoàng hậu Gayatri Devi qua đời do viêm ruột và nhiễm trùng phổi, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho người dân Ấn Độ.

Ước tính số tài sản mà vị hoàng hậu này để lại có giá trị khoảng 200 - 400 triệu USD. Số tài sản khổng lồ này đã châm ngòi cho những vụ tranh chấp tài sản của con cháu bà sau này.


Tāj Mahal (tiếng Urdu: تاج محل, tiếng Hindi: ताज महल) là một lăng mộ nằm tại Agra , Ấn Độ . Hoàng đế Môgôn Shāh Jahān (gốc Ba Tư , lên ngôi năm 1627 ); trong tiếng Ba Tư Shah Jahan (شاه ‌جها) có nghĩa là "chúa tể thế giới" đã ra lệnh xây nó cho người vợ của mình là Mumtaz Mahal , khi bà qua đời. Công việc xây dựng bắt đầu năm 1631 và hoàn thành năm 1653 [2] . Một số tranh cãi xung quanh câu hỏi ai là người thiết kế Taj Mahal; rõ ràng một đội các nhà thiết kế và thợ thủ công đã chịu trách nhiệm thiết kế công trình và Ustad Ahmad Lahauri được coi là kiến trúc sư chính. [3]


Taj Mahal nói chung được coi là hình mẫu tuyệt vời nhất của Kiến trúc Môgôn , một phong cách tổng hợp các yếu tố của các phong cách Kiến trúc Ba Tư , Thổ Nhĩ Kỳ , Ấn Độ , và Hồi giáo . [4] [5] Tuy phần mái vòm bằng đá cẩm thạch trắng của lăng là phần nổi bật nhất, thực tế Taj Mahal là một tổng hợp các phong cách kiến trúc. Nó được liệt vào danh sách các Địa điểm Di sản Thế giới của UNESCO năm 1983 và được miêu tả là một "kiệt tác được cả thế giới chiêm ngưỡng trong số các di sản thế giới". [6] Việc xây dựng Taj Mahal đã được giao phó cho một hội đồng quản trị của kiến ​​trúc sư dưới sự giám sát của triều đình, bao gồm Abd ul-Karim Khan Ma'mur, Makramat Khan, và Ustad Ahmad Lahauri . [7] [8] Lahauri [9] thường được coi là người thiết kế chính. [6] [10]

Nguồn gốc và cảm hứng


Shah Jahan, vị hoàng đế của Đế quốc Môgôn trong giai đoạn cực thịnh của nó, nắm trong tay nhiều nguồn tài nguyên to lớn. Năm 1631 người vợ thứ ba của ông đã qua đời khi sinh đứa con gái thứ hai, và cũng là đứa con chung thứ mười bốn của họ. [11] Shah Jahan được cho là không thể khuây khoả trước mất mát đó. Những cuốn biên niên sử triều đình thời kỳ đó chứa nhiều câu chuyện liên quan tới nỗi buồn đau của Shah Jahan trước cái chết của Mumtaz ; chúng chính là cơ sở của những câu "chuyện tình" thường được cho là cảm hứng tạo nên Taj Mahal. [12] Ví dụ, 'Abd al-Hamid Lahawri, đã ghi chép rằng, trước khi bà chết vị hoàng đế có "hai mươi sợi râu bạc," nhưng sau đó không còn sợi nào không bạc cả. [13]


Việc xây dựng đền Taj Mahal đã bắt đầu tại Agra ngay sau cái chết của Mumtaz năm 1632. [14] Lăng chính được hoàn thành năm 1648 , và các công trình xung quanh cùng vườn cây hoàn thành năm năm sau đó. Tới thăm Agra năm 1663 , nhà du lịch người Pháp François Bernier đã viết: [15]

Ảnh hưởng


Lăng Taj Mahal sở hữu và là nơi phát triển nhiều truyền thống kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc Hindu , Ba Tư và kiến trúc Môgôn trước đó. Một số cảm hứng đặc trưng lấy từ một số công trình Timur và Môgôn đã thành công trước đó. Chúng gồm Gur-e Amir (mộ của Timur, người khởi lập triều Timur, tại Samarkand ), [17] Mộ của Humayun, Mộ Itmad-Ud-Daulah (thỉnh thoảng được gọi là Baby Taj ), và chính Jama Masjid của Shah Jahan tại Delhi. Dưới sự bảo trợ của ông, công trình Môgôn đã đạt tới đỉnh cao hoàn thiện mới. [18] Trong khi các công trình Môgôn chủ yếu được xây bằng đá sa thạch đỏ, Shah Jahan đã ủng hộ việc sử dụng đá cẩm thạch trắng được khảm các loại đá bán quý khác.


Các thợ thủ công Hindu, đặc biệt là các nhà điêu khắc và thợ đá, đã mở rộng phạm vi buôn bán ra toàn châu Á vào thời điểm đó, và tài nghệ của họ được những người chịu trách nhiệm xây lăng mộ lưu tâm tìm kiếm. Tuy kiến trúc cắt đá là đặc điểm chủ yếu của những công trình xây dựng ở thời kỳ đó nhưng nó lại ít ảnh hưởng tới Taj Mahal (chạm khắc chỉ là một hình thức của yếu tố trang trí), các công trình Ấn Độ khác như cung điện Man Singh tại Gwalior là một nguồn cảm hứng cho hầu hết kiến trúc cung Môgôn và cũng là nguồn cảm hứng của đài kỷ niệm chhatris bên trong Taj Mahal.


Phức hợp này được đặt trong và ngoài một charbagh lớn (một Vườn Môgôn tiêu chuẩn thường được chia thành bốn phần). Với kích thước 320 m × 300 m, vườn có những đường đi đắp cao chia mỗi phần của nó thành 16 bồn hoa hay luống hoa thấp. Một bể nước bằng đá marble cao ở trung tâm vườn, khoảng giữa mộ và cổng chính, và một bể phản chiếu gióng theo trục bắc nam phản chiếu hình ảnh Taj Mahal. [19] Mọi nơi trong vườn đều được bố trí những đường đi với các hàng cây và vòi phun nước .


Vườn charbagh được vị hoàng đế Môgôn đầu tiên là Babur đưa vào Ấn Độ, đây là kiểu thiết kế lấy cảm hứng từ các vườn cây Ba Tư. Charbagh có nghĩa phản chiếu các khu vườn thiên đàng (từ từ paridaeza trong tiếng Ba Tư—một khu vườn có tường bao). Trong các văn bản thần bí Hồi giáo thời kỳ Môgôn, thiên đàng được miêu tả là một khu vườn lý tưởng, phong phú. Nước đóng một vai trò quan trọng trong những phần miêu tả đó: Ở Thiên đường, những cuốn sách đó viết, bốn con sông bắt nguồn từ một dòng suối ở trung tâm hay một quả núi, và chúng chia khu vườn thành bốn phần bắc, tây, nam và đông.

Đường đi bên cạnh bể phản chiếu


Đa số các charbagh của Môgôn đều có hình tam giác , với một ngôi mộ hay ngôi đình lớn ở trung tâm vườn. Vườn Taj Mahal lại đặt yếu tố chính, ngôi mộ, ở phía cuối chứ không phải ở giữa vườn. Nhưng sự tồn tại của một Mahtab Bagh hay "Vườn Ánh trăng" mới được khám phá ở phía bên kia Yamuna cho ta một cách giải thích khác—rằng chính Yamuna được tích hợp vào thiết kế vườn, và mang ý nghĩa là một trong những dòng sông của Thiên đường. [20]


Cách bố trí của khu vườn, và các đặc điểm kiến trúc của nó như các vòi phun nước, gạch , và các lối đi lát đá marble, những luống hoa theo các hình khác nhau cùng những đặc điểm khác, tương tự với Shalimar, và cho thấy vườn có thể cũng đã được kiến trúc sư Ali Mardan thiết kế. [21] Early accounts of the garden describe its profusion of vegetation, including abundant roses , daffodils , and fruit trees . [22]


Những lời miêu tả đầu tiên về khu vườn nói tới sự phong phú của các loài thực vật, gồm hoa hồng , thuỷ tiên hoa vàng , và các loại cây ăn quả . Khi Đế quốc Môgôn suy tàn, khu vườn cũng tàn tạ theo. Khi người Anh nắm quyền kiểm soát Taj Mahal, họ đã thay đổi cảnh quan để khiến nó giống với những vườn cỏ tại Luân Đôn . [23]

Các công trình phía ngoài

Nhìn toàn cảnh


Phức hợp Taj Mahal được bao quanh bởi một bức tường đá sa thạch đỏ có bố trí lỗ châu mai ở ba cạnh. Mặt quay ra con sông không có tường bao. Bên ngoài bức tường là nhiều công trình phụ trợ khác, gồm cả lăng mộ của những người vợ khác của Shah Jahan, và một ngôi mộ lớn cho người hầu thân cận của Mumtaz. Các công trình đó, chủ yếu được xây dựng bằng đá sa thạch đỏ, nói chung nhỏ hơn các ngôi mộ Môgôn cùng thời kỳ.


Phía bên trong (vườn), bức tường được xây mặt trước bằng những mái vòm với cột chống, một đặc điểm điển hình cả các đền thờ Hindu sau này đã được tích hợp vào các thánh đường Môgôn. Bức tường được đặt rải rác một số ngôi nhà nhỏ ( chattris ) mái vòm, và các công trình nhỏ có thể từng được dùng làm nơi quan sát hay đài chiêm ngưỡng (như cái gọi là Ngôi nhà Âm nhạc , hiện được dùng như bảo tàng).


Cổng chính ( darwaza ) là một cấu trúc kỷ niệm được xây chủ yếu bằng đá marble. Phong cách làm ta liên tưởng tới phong cách kiến trúc Môgôn của các vị hoàng đế Môgôn trước đó. Cổng mái vòm của nó phản ánh hình ảnh cổng mái vòm của ngôi mộ, và trên các vòm cung pishtaq của nó được trang trí bằng những nét chữ viết. Cổng được trang trí với các motif hoa lá theo kiểu phù điêu đắp nổi thấp và pietra dura (khảm). Những vòm trần và những bức tường được trang trí các hình học phức tạp, như những hình được tìm thấy tại các công trình xây bằng đá sa thạch khác trong phức hợp.

Phía trong jawab

Ở góc xa nhất của phức hợp, hai công trình xây bằng đá sa thạc đỏ lớn mở ra hai phía lăng mộ. Tường phía sau chúng song song với các bức tường bao phía tây và phía đông.


Hai công trình này là hình ảnh phản chiếu của nhau. Công trình phía tây là một thánh đường ; phía đối diện của nó là jawab hay "sự đối diện", mục đích chính của nó là để tạo sự cân bằng kiến trúc (và có thể nó từng được sử dụng như một nhà khách ở thời Môgôn). Sự khác biệt giữa chúng là jawab không có mihrab , một hốc tường bên trong hướng về phía Mecca , và sàn của jawab có kiểu thiết kế hình học, trong khi sàn thánh đường Hồi giáo được khảm 596 tấm thảm của người cầu nguyện bằng đá marble đen.

Thánh đường Taj Mahal hay masjid


Thiết kế căn bản của thánh đường tương tự với những thánh đường khác được Shah Jahan xây dựng, đặc biệt là thánh đường Jama Masjid tại Delhi : một sảnh dài nổi lên với ba lớp mái vòm. Các thánh đường Môgôn giai đoạn này chia sảnh điện thành ba khu vực: một điện chính với các điện nhỏ hơn ở hai bên. Tại Taj Mahal, mỗi điện dẫn tới một sảnh mái vòm lớn.

Biểu đồ sơ lược sàn Taj Mahal.


Điểm nhấn của Taj Mahal là lăng mộ đá cẩm thạch trắng. Giống như hầu hết lăng mộ Môgôn khác, các yếu tố căn bản đều có nguồn gốc Ba Tư : một tòa nhà đối xứng với iwan , một ô cửa hình vòm, trên đỉnh là một vòm lớn.


Lăng mộ đứng trên một bệ hình vuông. Cấu trúc nền lớn và có nhiều phòng. Phòng chính là nơi đặt bia kỷ niệm Shah Jahan và Mumtaz (mộ ở dưới một cấp).


Nền chủ yếu là hình khối với các cạnh xoi , khoảng 55 mét mỗi cạnh (xem sơ đồ nền, bên phải). Ở các cạnh dài, một pishtaq , hay lối đi có mái vòm lớn, bao quanh iwan, với một ban công hình vòm tương tự bên trên. Các vòm chính kéo dài trên mái tòa nhà bằng cách sử dụng mặt ngoài nối tiếp.

Mỗi bên vòm chính, các lối đi có mái vòm phụ được sắp xếp bên trên và bên dưới. Motif sắp xếp pistaq được lặp lại tại khu góc xoi.


Thiết kế hoàn toàn đồng nhất và như nhau ở mọi phía tòa nhà. Bốn tháp , ở mỗi góc chân cột, đối diện với các góc xoi, tạo thành khung bao mộ.

Móng, vòm, và tháp

Vòm đá mable trên mộ là điểm đáng chú ý nhất. Nó cao bằng với nền tòa nhà khoảng 35m. Chiều cao của nó nổi bật nhờ được đặt trên một cấu trúc hình trụ cao khoảng 7 mét.


Vì hình dạng của nó, vòm thường được gọi là vòm củ hành (cũng được gọi là amrud hay vòm ổi). Đỉnh vòm được trang trí một bông hoa sen , với vai trò nhấn mạnh chiều cao. Đỉnh cao nhất là một hình chạm đầu mái mạ vàng, theo phong cách pha trộn Ba Tư truyền thống và các yếu tố Hindu.

Hình chạm đầu mái


Hình dạng vòm được nhấn mạnh bởi bốn chattris (buồng) nhỏ hơn đặt ở bốn góc. Chattri vòm tuân theo hình dạng củ hành của vòm chính. Đáy hình cột của chúng mở qua mái mộ, và dẫn ánh sáng vào bên trong. chattris cũng có đỉnh là các hình chạm đầu mái mạ vàng.


Các đường xoắn ốc trang trí ( guldastas ) kéo dài từ cách cách đáy tường, và là điểm nhấn quang học cho chiều cao vòm.

Motif hoa sen được lặp lại trên cả chattris và guldastas.

Hình chạm đầu mái


Đỉnh của mái vòm chính có một chóp nhọn (hay hình chạm) dát vàng. Cho tới những năm đầu 1800 đỉnh chóp được làm bằng vàng, ngày nay nó được làm từ đồng. Hình chóp chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy có sự hòa nhập giữa truyền thống Ba Tư và những yếu tố trang trí Hindu. Trên cùng của hình chóp là một Mặt Trăng theo motif Hồi giáo truyền thống, có hai đầu nhọn hướng lên trời. Do vị trí của nó ở trên đầu mái, hai đầu nhọn của Mặt Trăng và đỉnh chóp tạo thành một hình đinh ba—gợi lại một biểu tượng truyền thống Hindu là Shiva . Những đỉnh tháp đều có dạng củ hành tương tự nhau. Đỉnh tháp trung tâm giống hệt như một chén đựng nước thánh của người Hindu ('kalash hay kumbh ).


Tại mỗi góc của mặt nền lăng mộ là các ngọn tháp theo kiểu giáo đường Hồi giáo: bốn ngọn tháp lớn cao hơn 40m. Một lần nữa các ngọn tháp đã thể hiện xu hướng chủ đạo cơ bản của Taj Mahal là sự đối xứng và thiết kế lặp lại. Các ngọn tháp được thiết kế với công năng tương tự như các ngọn tháp truyền thống ở giáo đường Hồi giáo, đó là nơi các muezzin (thầy tu) kêu gọi những tín đồ sùng đạo cầu nguyện. Mỗi ngọn tháp được chia làm ba phần bằng nhau rõ rệt bởi hai ban công, dùng để rung chuông cho tháp. Trên đỉnh mỗi ngọn tháp là ban công cao nhất với một chhatri trên cùng, phản chiếu lại những thiết kế trên hầm mộ. Chhatri của các ngọn tháp đều có những chi tiết hoàn thiện giống nhau: thiết kế hình hoa sen, trên cùng là hình chạm đầu mái. Mỗi ngọn tháp đều được xây hơi nghiêng ra phía ngoài của mặt nền, để cho khi tháp có bị sụp đổ (một sự cố thường xảy ra đối với những công trình cao tầng vào thời đó)thì các mảnh vụn cũng sẽ có xu hướng rơi ra xa hầm mộ.

Trang trí

Trang trí bên ngoài

Chữ viết trên pishtaq lớn.

Các trang trí bên ngoài đền Taj Mahal được đánh giá là những trang trí đẹp nhất thời vương triều Môgôn. Một chi tiết trang trí nổi bật chính là các dòng chữ pishtaq nổi tiếng. Các chữ pistaq phía dưới được viết nhỏ hơn phía trên để khi từ dưới nhìn lên, ta có cảm tưởng là các chữ này to bằng nhau. Chúng được viết bằng sơn, hoặc bằng vữa, hoặc bằng đá khảm hoặc đơn giản hơn là chạm khắc thẳng vào vách tường.


Các đoạn văn trên tường đền Taj Mahal được viết theo kiểu Thuluth , một kiểu chữ rất đẹp và bóng bẩy do Amanat Khan tạo ra. Chúng được khảm bởi các loại đá quý như đá hoa và cẩm thạch , đặc biệt các đoạn chữ viết trên bệ đá cẩm thạch của đài tưởng niệm trong đền lại càng chi tiết và thanh nhã hơn. Một số đoạn văn bản trong kinh Koran cũng được trang trí trên tường đền, tương truyền rằng đích thân Amanat Khan đã chọn những đoạn này. [24] [25]


Khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you. (tạm dịch là: Này linh hồn, mi đang yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài bình yên với mi. )

Tranh chạm. Chi tiết bông hoa khắc trên đền.
Các trang trí ở phần mắt cửa .
Kiểu bố trí chữ chi.

Trang trí bên trong

Đài tưởng niệm, bên trong Taj Mahal


Nội thất bên trong lăng Taj Mahal đã vượt ra khỏi những yếu tố trang trí truyền thống. Có thể nhận xét không hề cường điệu, lăng mộ đúng là một món trang sức . Những chi tiết trang trí ở đây không phải là tranh khảm mà là chạm khắc . Vật liệu trang trí trên bề mặt không phải là cẩm thạch hay ngọc bích mà là đá quý hay đá bán quý. Mỗi chi tiết trang trí ngoại thất của hầm mộ đều được đánh giá lại với nghệ thuật kim hoàn.

Xây dựng

mặt bằng nền Taj Mahal


Taj Mahal được xây trên một thửa đất ở phía nam của thành phố cổ Agra. Shah Jahan presented Maharajah Jai Singh với một cung điện lớn ở trung tâm Agra để trao đổi lấy đất xây dựng. [26] Khu vực có diện tích gần 3 acre (khoảng 12.000 m2) được đào lên, lấp đầy bụi để giảm thấm, và ở độ cao 50 mét (160 ft) so với bờ sông. Ở khu vực mộ, các giếng được đào lên và lấp đầu cuội sỏi để tạo móng cho mộ. Thay vì dùng tre chống đỡ, những người thợ đã xây dựng một giàn giáo bằng gạch lớn phản chiếu ngôi mộ. Giàn giáo rất to lớn theo ước tính mất khoảng vài năm để những người thợ tháo dỡ nó.


Theo truyền thuyết, Shah Jahan ra lệnh rằng bất cứ ai cũng có thể giữ những viên gạch lấy từ giàn giáo, và do đó nó đã bị những người nông dân tháo dỡ chỉ trong một đêm. 15 km (9,3 mi) đường dốc bằng đất đầm nện được xây dựng để vận chuyển đá cẩm thạch và các vật liệu khác đến để xây dựng công trình và các đội gồm 20 hoặc 30 con bà được dùng để kéo các khối đá trên các toa xe có cấu tạo đặc biệt. [27] Một hệ thống ròng rọc phức tạp được sử dụng để nâng các khối đá lên đến vị trí thiết kế. Nước được lấy từ sông bằng một loạt các purs , theo cơ chế dùng sức kéo của súc vật, đổ vào một hồ chứa nước lớn và đưa lên các bồn phân phối lớn. Nó được đưa qua 3 bồn chứa nhỏ hơn, từ đó cấp đến các phức hợp.


Các trụ và ngôi mộ mất khoảng 12 năm để hoàn thành. Phần còn lại của khu phức hợp mất thêm 10 năm và đã được hoàn thành theo thứ tự tháp, nhà thờ Hồi giáo và Jawab, và cổng. Vì phức hợp được xây dựng trong nhiều giai đoạn, nên có sự khác biệt về ngày hoàn thành do những quan điểm khác nhau về sự "hoàn thành". Ví dụ, riêng lăng mộ, về cơ bản hoàn thành năm 1643, nhưng công việc vẫn còn tiếp tục để hoàn thành những phần còn lại của khu phức hợp. Dự toán chi phí xây dựng có sự khác biệt do những khó khăn trong dự toán chi phí theo thời gian. Tổng chi phí đã được ước tính là khoảng 32 triệu Rupees tại thời điểm đó. [28]


Vật liệu xây dựng Taj Mahal được lấy từ nhiều nơi trên khắp Ấn Độ và châu Á và có hơn 1000 con voi được sử dụng để vận chuyển vật liệu xây dựng. Đá cẩm thạch trắng mờ được mua từ Makrana , Rajasthan, jasper từ Punjab , jade và pha lê từ Trung Quốc. Turquoise từ Tây Tạng và Lapis lazuli từ Afghanistan , trong khi sapphire từ Sri Lanka và carnelian từ Ả Rập . Tổng cộng có 28 loại đá quý và bán quý được khảm vào đá cẩm thạch trắng.

Nhưng nằm cách các đường phố náo nhiệt ở Agra 500 dặm về phía tây nam lại là thành phố hẻo lánh, buồn tẻ Burhanpur, nơi từng lưu giữ một chương rất khác về cuộc sống ở thế giới bên kia của cố hoàng hậu Mumtaz. Ở đó, ngập trong dòng khách du lịch, là tàn tích của Ahukhana – nơi an giấc ngàn thu ban đầu của hoàng hậu Mumtaz.


Nhà vua nặng lòng yêu vợ

Lão ông Mohammed Shehzada Asif Khan, 72 tuổi, nhiếp ảnh gia, người từng tổ chức Lễ hội tôn vinh Mumtaz Mahal ở Burhanpur trong vòng 40 năm qua cho biết:  Có khoảng 7-8 triệu lượt du khách đổ về Taj Mahal mỗi năm, nhưng không một ai hay biết về sự tồn tại của Ahukhana, lăng mộ đầu tiên của hoàng hậu Mumtaz Mahal.

Kiến trúc Ahukhana được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16 dùng làm công viên nuôi dưỡng hươu nai cho hoàng đế Shah Jahan được biết đến dưới cái tên baradari. Chính cái baradari này là nơi đã quàn di hài của hoàng hậu Mumtaz khoảng 6 tháng sau khi bà qua đời. Tuy nhiên đến ngày nay, tòa lăng mộ bị bỏ hoang phế với cỏ dại mọc bạt ngàn.

Hoàng đế Shah Jahan cai trị một đế quốc rộng lớn từ thủ đô Delhi ở phía bắc đất nước. Cuối thập niên 1620, đế quốc của nhà vua bị bao vây bởi những cuộc nổi dậy từ các vương quốc Deccani ở miền Nam Ấn. Nhằm dập tắt tình trạng bất ổn, Shah Jahan đã thiết lập một trung tâm chỉ huy ở Burhanpur (cửa ngõ dẫn vào miền Nam Ấn Độ, nơi nổi tiếng với sản phẩm vải hoa và “hang ổ” thuốc phiện), và trực tiếp điều binh khiển tướng từ chính thành phố này trong suốt 2 năm.

Hoàng đế Shah Jahan sống ở cung điện lớn Shahi Qilla trên bờ sông Tapti nằm không xa vườn hươu. Trong chính tòa cung điện đó, theo một số sách nghiên cứu, hoàng hậu Mumtaz đã tạ thế đột ngột trong lúc hạ sinh đứa con thứ 14 vào ngày 17-6-1631.

Về chuyện này, có đoạn viết: “Suy nhược vì bị băng huyết, hoàng hậu Mumtaz thì thào vào tai người chồng đang tột cùng đau khổ vì yêu vợ, nàng cầu xin chàng đừng lấy vợ nữa. Lời đề nghị cuối cùng của hoàng hậu là xây cho nàng một lăng mộ như bối cảnh thiên đường trên trái đất như những gì mà trong các giấc mơ của hoàng hậu đã trải qua. Các quan trong triều đình Shah Jahan đã tỉ mỉ ghi chép lại hoàn cảnh về cái chết của hoàng hậu chỉ vài phút sau khi bà sinh con gái: Khi mang viên trân châu cuối cùng, thân thể hoàng hậu hệt như một con trai”.

Ông Nandkishore Devda, sử gia 90 tuổi, người đã từng cất công viết nên 3 cuốn sách đồ sộ về di tích Burhanpur, nói rằng một tuần sau khi hoàng hậu Mumtaz tắt hơi, hoàng đế Shah Jahan không thiết triều, có vẻ như cuộc sống không còn gì có thể khiến ngài lưu luyến nữa.

Đại sảnh ở Burhanpur - nơi di hài Hoàng hậu Mumtaz Mahal được quàn trong suốt 6 tháng.

Sử gia cho biết: “Triều đình cấp tập lo tang lễ cho hoàng hậu. Các quan lại đều bận y phục trắng. Sầu muộn vì thương vợ vắn số đến nỗi tóc của vua Shah Jahan chuyển sang xám bạc chỉ trong một đêm. Và 2 năm tiếp theo đó nhà vua càng không ngó ngàng gì tới các thú vui trần thế. Vào dịp lễ hội Eid, nhà vua đau khổ khóc than, ngậm ngùi buồn bã trước sự ra đi của người vợ mà người nhất mực yêu thương”.

6 tháng sau ngày mất, xác của hoàng hậu Mumtaz được ướp như thể người đang còn sống ngay tại Ahukhana. Hoàng đế Shah Jahan suốt ngày ủ rũ trong cung điện, luôn để mắt đến mộ vợ. Vào mỗi thứ sáu hàng tuần, nhà vua đọc kinh cầu an Fateha cầu mong linh hồn vợ nhanh siêu thoát tại Baradari.

Thời kỳ đó, Ahukhana được dùng làm nơi nghỉ mát của hoàng gia Mughal, nơi đây có những đài phun nước cùng những dòng kênh rải đầy cánh hoa hồng. Khu phức hợp Baradari được xây dựng toàn bằng đá sa thạch màu hoa hồng và được trang trí lộng lẫy bằng vô số bức bích họa tinh xảo. Cảnh sắc huy hoàng đó ngày nay không còn nữa. Một tuyến đường mòn đầy bùn dẫn vào phế tích, nơi đây hầu như không thể lui tới chí ít là vào mùa mưa.

Cung điện Shahi Qilla cũng trở thành phế tích tiêu điều nốt, nhưng dù sao nó cũng còn được bảo quản tốt hơn so với mộ của hoàng hậu, và có nhiều khách tham quan hơn.


Lý do xây dựng lăng mộ Taj Mahal

Nhà khảo cổ học Kurush Dalal phát biểu: “Hoàng đế Shah Jahan từng muốn dùng Burhanpur là nơi an giấc ngàn thu cho vợ ngài, nhưng nơi này chỉ đơn giản là không được như ý nguyện”. 6 tháng sau khi hoàng hậu Mumtaz qua đời, vào ngày 14-12-1631, một đoàn tang lễ đã một lần nữa di quan hoàng hậu từ Burhanpur đến Agra.

Suốt 22 năm cho tới khi lăng mộ Taj Mahal được hoàn thiện (năm 1653), xác ướp của hoàng hậu đã được giữ bí mật ở đâu đó trên bờ sông Yamuna. Tuy nhiên đối với cư dân ở Burhanpur, lăng mộ đầu tiên của cố hoàng hậu còn hơn cả một nhà mồ, nó là một phần kho báu trong lịch sử của Mughal theo một lẽ riêng. Burhanpur là nơi có số đông đảo người dân đam mê di sản, họ chỉ ra rằng tòa lăng mộ trắng ngà Taj Mahal có thể đã được dựng lên thay cho Ahukhana.

Ông Rafiq Shaikh, cư dân Burhanpur, người nặng lòng với các câu chuyện dân gian, cho rằng có 3 lý do để hoàng đế Shah Jahan không dùng Burhanpur là nơi an táng vĩnh viễn người vợ yêu dấu của mình. Thứ nhất, cát ở Burhanpur đa phần bị nhiễm mối không thích hợp để giữ ổn định cho một cấu trúc khổng lồ.

Thứ 2, đá cẩm thạch dùng để dựng lăng mộ Taj Mahal được chuyển tới từ Rajasthan, nơi này nằm gần Agra hơn. Thứ 3, hoàng đế muốn hình ảnh của tòa lăng mộ phản chiếu xuống dòng sông khi nó được xây dựng xong, tôn lên vẻ đẹp lung linh của Taj Mahal.

Ông Gopal Mahajan, doanh nhân 46 tuổi, lòng không nguôi hy vọng về việc phục hồi phế tích. Gần đây, Bộ Du lịch Ấn Độ đã khởi động một dự án gọi là “Chấp nhận di sản”, trong đó kêu gọi các cá nhân quyên tiền bạc để dùng vào việc duy tu Ahukhana.

Chia sẻ Facebook
loading...