Đa nhân cách là gì?

Chia sẻ Facebook
03/08/2019 22:09:21

Rối loạn đa nhân cách (Dissociative Identity Disorder – DID, hay trước đây gọi là Multiple Personality Disorder – MPD) là một căn bệnh được bác sĩ Pierre Janet mô tả lần đầu vào thế kỉ 19. Người bệnh có hai hay nhiều trạng thái nhân cách riêng biệt cùng tồn tại và thay nhau chi phối cơ thể. Các rối loạn này không phải do ảnh hưởng từ thuốc và người bệnh có thể quên đi những việc mình đã làm trong trạng thái nhân cách tiềm ẩn. Căn bệnh bí ẩn gây nhiều tranh cãi này là đề tài hấp dẫn cho các nhà làm phim khai thác.

Rối loạn nhân cách


Rối loạn nhân cách (tiếng Anh: Personality disorders ) là một tập hợp các trạng thái để biệt định các đối tượng có cách sống, cách cư xử và cách phản ứng hoàn toàn khác biệt với người thường nhưng lại không đủ các triệu chứng của một bệnh lý tâm thần đặc trưng. Khái niệm về rối loạn nhân cách là một khái niệm tiến triển và thay đổi theo sự phát triển của ngành tâm thần. J.Reich cũng như Kaplan đều đưa ra các con số là từ 6 tới 11,1% dân số có vấn đề về rối loạn nhân cách [1] .

Đặc điểm


Rối loạn nhân cách là chẩn đoán có thể gây tranh cãi, căn bệnh tác động lên hầu hết thái độ và hành vi của người mắc. Vấn đề thường gặp phải là sự cản trở trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội. Hiện nay vẫn chưa thống nhất nguyên nhân và cách điều trị. Tên gọi đã bao hàm căn nguyên của bệnh nảy sinh từ tính cách. Trên thực tế họ có hành vi và cảm xúc khác bình thường. Nhưng thế nào thì được coi là bình thường, dĩ nhiên nó thay đổi từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác và chẩn đoán cần phải căn cứ trong bối cảnh cụ thể của luật pháp, nghĩa vụ và sự mong chờ của một cộng đồng cụ thể. Ví dụ như hành vi trong thời chiến tranh không được coi cùng giá trị trong thời bình [2] . Phần lớn mọi người có thể sống cuộc sống bình thường với rối loạn nhân cách ở mức độ nhẹ, nhưng trong khoảng thời gian có sự gia tăng căng thẳng hoặc của các sức ép bên ngoài như công việc, gia đình, mối quan hệ mới, các triệu chứng của bệnh sẽ tăng lên nhanh chóng và bắt đầu gây ra những vấn đề xấu đến cảm xúc và các chức năng tâm lý [3] .

Có rất nhiều dạng rối loạn nhân cách nhưng chúng đều có đặc điểm chung sau:

Phần lớn những hành vi thể hiện sự rối loạn nhân cách xuất hiện trong thời kỳ cuối thời thơ ấu hoặc thanh niên và sẽ tiếp tục xuất hiện khi trưởng thành

Rối loạn nhân cách ở trẻ em hay vị thành niên đôi khi được mô tả như là hạnh kiểm kém. Nhưng không phải bất cứ đứa trẻ nào có hạnh kiểm kém đều nhất thiết dẫn đến rối loạn nhân cách khi trưởng thành sau này

Người rối loạn nhân cách có thái độ và hành vi là nguyên nhân gây ra những vấn đề lớn cho chính bản thân họ và người khác. Ví dụ như cách họ nhìn cuộc sống, cách họ nghĩ, quan hệ với người khác, làm việc

Người được chẩn đoán rối loạn nhân cách có thể không có tính mềm dẻo trong cư xử

Có tính chất dai dẳng diễn ra trong một thời gian dài.

Phần lớn người được chẩn đoán là rối loạn nhân cách phù hợp với ít nhất 2 tiêu chuẩn ở trên Hầu hết những người rối loạn nhân cách không nguy hiểm Tuy vậy rối loạn nhân cách chống đối xã hội hoặc psychopathic có thể gây nguy hiểm Rối loạn nhân cách ranh giới hoặc hoang tưởng có nguy cơ tự gây thương tích và tự tử cao hơn bình thường Người rối loạn nhân cách có nhiều nhu cầu và dễ bị tổn thương

Nguyên nhân


Hiện tại có rất ít nghiên cứu về nguyên nhân của bệnh rối loạn nhân cách. Một số giả thuyết được đưa ra bao gồm các vấn đề từ thời thơ ấu như bị ngược đãi , thiếu cha hoặc mẹ, sao lãng trong việc chăm sóc và bị tổn thương. Các yếu tố về thần kinh và gien như chấn thương não hay thiếu chất serotonin cũng được cho là một phần nguyên nhân.

Cũng có thể là do dùng một số loại thuốc, như Ritalin chẳng hạn

Phân loại rối loạn nhân cách


Hiện nay cả hai cách phân loại bệnh tật quốc tế như DSM và ICD đều có khuynh hướng tách ra khỏi các lý thuyết bệnh lý và đặt trọng tâm trên các biểu hiện lâm sàng [1] .


Tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM hướng đến hành vi hoặc đặc điểm tính cách kéo dài từ thời ấu thơ đến thời điểm hiện tại. Rối loạn nhân cách được mô tả như là tập hợp các hành vi là nguyên nhân gây ra sự suy giảm lớn về chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc gây ra cảm giác đau buồn chủ quan [2] .

Rối loạn nhân cách là một dạng bất biến của quá trình sống và cư xử đi lệch ra ngoài nền văn hóa tương quan với người đó, có tính chi phối và cứng nhắc, thường xuất hiện vào đầu tuổi thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành, hằng định với thời gian và là nguồn gốc gây đau khổ hoặc sút giảm chức năng


Tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD bao gồm đa dạng các điều kiện hướng đến các đặc điểm tính cách lâu dài của trạng thái nhận thức, đồng thời hành vi có sự khác biệt rõ ràng với sự chấp nhận và mong chờ của xã hội [2] .

Rối loạn nhân cách bao gồm các dạng hành vi bền vữngăn sâu bộc lộ qua sự đáp ứng cứng nhắc trong các hoàn cảnh cá nhân và xã hội khác nhau

Theo hệ thống DSM, có 3 nhóm rối loạn nhân cách.

Nhóm A:Kỳ quái/lập dị

Nhóm B:Kịch tính/nhiều cảm xúc/bất định

Rối loạn nhân cách chống đối xã hội : Có biểu hiện chủ yếu bằng sự khó hoặc không thích ứng thường xuyên với các quy tắc đạo đức xã hội và pháp luật , không quá ngạc nhiên khi các nghiên cứu chỉ ra rằng căn bệnh này có tỷ lệ cao ở tù nhân (những người thường có hành vi bạo lực), tương tự như vậy người lạm dụng rượu và các chất gây nghiện cũng được ghi nhận là có khả năng mắc cao hơn cộng đồng.

Rối loạn nhân cách ái kỷ : Có biểu hiện qua ảo tưởng và hành vi tự cao tự đại, khát vọng được người khác ngưỡng mộ, tham vọng thành công chói sáng trong mọi lãnh vực và thiếu sự đồng cảm với người khác.

Nhóm C:Lo âu

Rối loạn nhân cách phụ thuộc

Rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế : Có đặc tính là sự quan tâm quá mức tới những chi tiết, quy tắc, sắp xếp trật tự và hoàn hảo. Mặt khác lại rất sợ phạm sai lầm, nghiền ngẫm và lý luận suông, hệ quả là không dám làm và hay lưỡng lự. Về cảm xúc thường đè nén, trở ngại trong giao tiếp , thiếu khôi hài, cởi mở và khi thương lượng với người khác thường cứng nhắc.

Chẩn đoán


Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM. Rối loạn nhân cách được phân ở mục hai thuộc tài liệu chẩn đoán của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ, DSM-IV. Để chẩn đoán rối loạn nhân cách, những tiêu chuẩn đặc biệt được liệt kê dưới đây phải được đáp ứng [4] .


A .Có nhận thứchành vi lâu dài khác biệt rõ ràng với chuẩn văn hóa của cá nhân đó. Phải có ít nhất hai biểu hiện bất thường thể hiện ở các lĩnh vực sau:

Nhận thức (nhận thức và cảm nhận về bản thân, người khác và các sự kiện) Tính nhạy cảm (bề rộng, bề sâu, tính không ổn định và các đáp ứng hợp lý của cảm xúc) Chức năng xã hội Điều khiển cơn bốc đồng


B .Các mẫu ứng xử, hành vi tồn tại lâu dài cứng nhắc và ảnh hưởng rộng đến các hoạt động cá nhân và xã hội.


C .Sự tồn tại dai dẳng của các mẫu dẫn đến tình trạng đau khổ thực sự hoặc làm suy giảm các chức năng xã hội, công việc hoặc các chức năng quan trọng khác.


D .Các mẫu tồn tại một cách ổn định và lâu dài, đồng thời phải xuất hiện trước thời thanh niên hoặc trưởng thành .


E .Các mẫu không phải là biểu hiện hay hệ quả thích hợp hơn của một loại rối loạn tâm thần nào khác .


F .Các mẫu không phải là hệ quả trực tiếp từ những vấn đề thể chất hay điều kiện sức khỏe nói chung như là bị tổn thương ở đầu.


Những người dưới 18 tuổi phù hợp với những tiêu chuẩn rối loạn nhân cách thường không được chẩn đoán là bị bệnh này, nhưng họ có thể được chẩn đoán các rối loạn khác có liên quan. Rối loạn nhân cách chống đối xã hội không được chẩn đoán cho tất cả những người dưới 18 tuổi.

Các giai đoạn điều trị và tự quản lý bản thân

Hiện tại chúng ta không có nhiều hiểu biết về những lợi ích dài hạn của các phương pháp điều trị rối loạn nhân cách. Nguyên nhân là vì có ít nghiên cứu đáng tin cậy. Các nghiên cứu đến lúc này đều chỉ ra rằng rối loạn nhân cách có thể chữa khỏi hoặc quản lý được, đặc biệt là các dạng trung tính, nhưng không điều trị đơn lẻ nào có hiệu quả với mọi trường hợp.

Rối loạn nhân cách khó điều trị bởi nó là quá trình kéo dài cả đời, tỏa khắp thái độ, hành vi và cũng bởi người rối loạn nhân cách còn gặp phải nhiều vấn đề tâm lý khác. Khi quá trình điều trị đổ vỡ thì thường là do bệnh nhân không đáp ứng các yêu cầu của chương trình hơn là các dịch vụ không đáp ứng được các yêu cầu cá nhân.


Ở những nước phát triển, chẳng hạn như Anh Quốc điều trị rối loạn nhân cách rất đa dạng, thích ứng với phạm vi lớn, từ các cơ sở y tế quốc dân, bệnh viện tâm thần, những bệnh viện đặc biệt hoặc trong nhà tù. Có khả năng cung cấp những nhân viên đủ chất lượng [2] .

Sử dụng thuốc


Hầu hết các rối loạn nhân cách đều không đáp ứng với điều trị bằng thuốc và đây cũng là một cơ sở cho việc chẩn đoán phân biệt giữa rối loạn nhân cách và rối loạn khí sắc. Tuy nhiên, gần đây có sự gia tăng khuynh hướng dùng thuốc trong điều trị [5] . Điều trị với anxiolytic hoặc thuốc an thần trong giai đoạn ngắn cho trường hợp bị stress nặng. Điều trị dài hạn bao gồm thuốc an thần có thể hữu dụng đối với rối loạn nhân cách hoang tưởng và rối loạn nhân cách phân liệt . Tuy nhiên có thể thuốc có hiệu quả trong việc điều khiển nguy hiểm và stress hơn là điều trị dài hạn chính bản thân căn bệnh rối loạn nhân cách.

Phân tích tâm lý


Điều trị này nhấn mạnh đến cấu trúc và sự phát triển của nhân cách. Nó hướng đến những nhân tố bên trong cho phép bệnh nhân hiểu được những cảm xúc của mình. Nhưng nó cũng có những hạn chế chẳng hạn nó tỏ ra kém hiệu quả đối với rối loạn nhân cách chống xã hội .

Liệu pháp nhận thức và hành vi

Liệu pháp nhận thức và hành vi là tên gọi chung cho các trị liệu sử dụng phương pháp nhận thức, hành vi biện chứng, tâm lý trị liệu, phân tích nhận thức. Phần lớn liệu pháp hành vi nhận thức hướng tới những khía cạnh đặc biệt như suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và thái độ, không phải toàn bộ tình trạng rối loạn nhân cách của người bệnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp này có hiệu quả khi chỉ cần điều trị trong thời gian ngắn nhưng một số khác lại nói rằng nó chỉ có hiệu quả khi điều trị dài hạn.

Căn bệnh hiếm gặp Rối loạn Đa nhân cách (Multiple Personality Disorder - MPD), hay tên gọi mới hơn là Rối loạn Tách rời Nhận thức (Dissociative Identity Disorder - DID), là một chủ đề rất thú vị xoay quanh một căn bệnh hiếm gặp.

Có thể bạn thấy nó trên phim ảnh, đọc trong sách báo và thấy căn bệnh này … quá kì diệu để có thể có thực: Làm sao mà trong một cơ thể sống, nhiều nhân cách khác nhau đại diện cho nhiều người khác nhau cùng tồn tại? Phải chăng não bộ con người có thể phá vỡ giới hạn ấy, tạo nên một con người hoàn toàn mới cho vật chủ của mình?


Vậy căn bệnh nhiều nhân cách này là gì?

Nó là một căn bệnh rối loạn tâm lý, sinh ra ÍT NHẤT là hai nhân cách trong cùng một con người. Thông thường, căn bệnh này đi kèm với chứng mất trí nhớ không thể được giải thích bằng việc lãng quên thông thường.

Ví dụ, bạn có thể quên chìa khóa ở chỗ này, chỗ kia hay vô thức lái xe qua một con phố quen mà không nhận ra mình đã làm thế. Nhưng ở người mắc chứng Rối loạn Đa nhân cách (xin phép gọi tắt là Đa nhân cách), họ sẽ không nhớ được mình đã làm gì khi một nhân cách nào đó đang ngự trị. Những lúc đó, họ thường cho là mình đã đi ngủ. Sự mất trí nhớ, việc không nhận thức được những sự việc đã xảy ra trong quá khứ là một đặc điểm chính của căn bệnh và của những người mắc chứng Đa nhân cách.

Bức hình mô tả một bệnh nhân đa tính cách.

Đừng nhầm lẫn, căn bệnh này không hề giống với Triệu chứng Tâm thần phân liệt hoang tưởng. Những người bị tâm thần phân liệt là thường nghe thấy một giọng nói khác trong đầu mình mang đầy vẻ tiêu cực, công kích và nghi ngờ kẻ khác, cho rằng tất cả mọi người đều mang ý xấu. Họ sẽ hành động theo giọng nói ấy, thông thường những hành vi ấy để lại những hậu quả xấu cho xã hội.

Căn bệnh này cũng là một trong những những chứng rối loạn gây nhiều tranh cãi nhất ngành thần kinh học, hiện tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau về phương pháp chẩn đoán cũng như chữa trị chứng Đa nhân cách. Mặc dù chưa có những nghiên cứu dịch tễ học chuyên sâu hay những nghiên cứu chữa trị lâu dài, nhưng đa số họ đều tin rằng đây không phải căn bệnh có thể tự chữa lành theo thời gian.

Triệu chứng bệnh cũng khác nhau trên những bệnh nhân khác nhau. Theo nghiên cứu của Cộng đồng Nghiên cứu Chấn thương và Phân tách tâm lý Quốc tế, thì căn bệnh này tồn tại trong khoảng 1% cho tới 3% dân số toàn cầu, 1% cho tới 5% bệnh nhân tâm thần nội trú tại Châu Âu và Bắc Mỹ mắc chứng này. Bắc Mỹ cũng là nơi xuất hiện những trường hợp mắc chứng Đa nhân cách này nhiều nhất.

Nguyên nhân gây nên chứng bệnh Đa nhân cách cũng không (hoặc là chưa) được xác định rõ ràng, đã có nhiều tranh cãi xoay quanh việc Đa nhân cách hình thành như một phản ứng tự nhiên trước những chấn thương tâm lý khi bệnh nhân còn bé, tạo ra một vỏ bọc bảo vệ bản thân trước những kí ức không mấy tốt đẹp.

Đây cũng là chủ đề thường xuyên được nhắc tới mỗi khi vấn đề pháp luật được đề cập, bởi lẽ trong quá khứ, đã có những trường hợp hiếm gặp, kẻ giết người thoát tội sau khi bác sĩ xác định rằng họ đã mắc chứng bệnh tâm thần đặc biệt này.

Những trường hợp nổi tiếng liên quan tới căn bệnh tâm lý Đa nhân cách trong quá khứ


Mary Kendall và những khoảng trống trong trí nhớ

Nghiên cứu trích từ cuốn sách Consciousness and Intentionality của tác giả Grant Gillett và John McMillan.

Năm 1994, các nhà thần kinh học đã tiến hành nghiên cứu và bàn luận nhiều về vụ việc của một phụ nữ 35 tuổi, cô Mary Kendall. Cô Mary không có nhiều mối quan hệ xã hội, cô dành nhiều thời gian vào việc chăm sóc và giúp đỡ những người khác.

Bản thân cô Mary cũng có một lịch sử dài với những đơn thuốc được bệnh viện cung cấp, bao gồm những cơn đau tay kinh niên. Những cơn đau ấy đã khiến cô tìm tới một bác sĩ thần kinh trị liệu nhờ giúp đỡ.

Trong quá trình điều trị, cô đã thể hiện ra nhiều tính cách khác nhau, một biểu hiện chỉ có ở những bệnh nhân mắc chứng Rối loạn Đa nhân cách. Cùng với việc cô rất dễ bị thôi miên và trí nhớ của cô thường hay có những khoảng trống không thể giải thích được, các bác sĩ lại càng có cơ sở để khẳng định cô Mary là một người Đa nhân cách.

Cô bắt đầu phát hiện ra những khoảng trống trong trí nhớ của mình khi nhận thấy rằng rất nhiều lần bình xăng đầy khi cô trở về nhà, nhưng lại cạn vào buổi sáng hôm sau khi cô lấy xe đi làm. Việc xảy ra thường xuyên đến mức cô bắt đầu ghi lại chỉ số đo quãng đường trên xe. Cô nhận thấy rằng cứ sau một đêm, đồng hồ lại tăng thêm khoảng 80 đến 160 km nhưng cô không nhớ rằng trong đêm mình có đi đâu không.


Khi bác sĩ thực hiện “thôi miên” cô Mary, một giọng nói kì lạ vang lên “ Đã đến lúc người ta biết về tôi rồi" . Một tính cách khác đã xuất hiện, có thái độ thù địch hơn hẳn cô Mary quan tâm, chăm sóc với người khác. Tính cách thứ hai mang tên Marian này nói rằng cô ta thường xuyên đi dạo ban đêm để “giải quyết vấn đề cá nhân”.

Nhân cách Marian thứ hai này khinh miệt Mary vì sự yếu đuối của cô: Mary là một kẻ thảm hại, suốt ngày phí thời gian quan tâm tới vấn đề của kẻ khác. Trong suốt quá trình theo dõi, cô Mary đã bộc lộ tổng cộng 6 tính cách riêng biệt, đa số các tính cách ấy đối nghịch với nhau.


Việc các nhân cách giành quyền điều khiển cô Mary diễn ra khá thường xuyên, và thông thường nhân cách Marian không được thân thiện lắm kia là người tạo nên các tình huống đe dọa các nhân cách còn lại, trong số đó có một nhân cách mang suy nghĩ và giọng nói của một đứa trẻ 6 tuổi. Khi bác sĩ tâm lý gợi ý rằng họ muốn trò chuyện kĩ hơn với những nhân cách khác, Marian đã từ chối, rằng “ điều đó vi phạm mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau giữa bác sĩ và bệnh nhân ”.

Trong quá trình điều trị, nhiều ký ức đau buồn về thời thơ ấu bị người cha đánh đập và lạm dụng được khơi dậy, kèm theo một chút hối tiếc rằng Mary đã không thể bảo vệ được những người em khác khỏi tay người cha tàn ác. Mary cũng nhớ lại việc mẹ cô dù ít khi đánh đập cô, nhưng cũng đã bắt cô phải gánh vác việc nhà từ khi còn bé.

Đó cũng là những bằng chứng liên kết việc kí ức đau buồn đã dẫn đến sự hình thành của các tính cách khác nhau trong một bệnh nhân mắc chứng Rối loạn Đa nhân cách.

Sau 4 năm điều trị, một số nhân cách có đôi chút điểm chung đã hòa vào làm một, nhưng bản thân cô vẫn còn bị ảnh hưởng bởi việc tách rời nhân cách và những nhân cách kia vẫn không ngừng đấu tranh với nhau, giành quyền kiểm soát.


Kẻ siết cổ nơi sườn đồi – The Hillside Strangler

Kenneth Bianchi, hay với cái tên tội phạm mà hắn được biết tới – Kẻ siết cổ nơi sườn đồi, là một tên giết người hàng loạt, nổi tiếng với loạt tội ác mà hắn đã thực hiện cùng người họ hàng của mình, Angelo Buono. Hai tên sát nhân đã thực hiện tổng cộng 12 vụ cưỡng hiếp và giết người.

Trong khoảng tháng 10 năm 1977 cho tới tháng Hai năm 1978, cả hai tên đã thực hiện tổng cộng 10 vụ án nội chỉ trong vùng Los Angeles. Đầu tiên, hai tên sát nhân nhằm vào những cô gái phố đèn đỏ và dần dần, chúng chuyển đối tượng sang phụ nữ và những cô gái trẻ. Sau khi gây án, chúng thường để xác nạn nhân dưới những sườn đồi trong khu vực công viên Glendale Hightland, từ đó hình thành cái tên “The Hillside Strangler”.

Sau khi Bianchi chuyển tới New York, hắn đã thực hiện thêm 2 vụ giết người nữa, với cách thức y hệt như với các nạn nhân tại LA. Nhưng do không còn đồng phạm, hắn bất cẩn hơn và đã để lộ mình.

Kenneth Bianchi tại tòa án xét xử.

Ở phiên tòa xét xử mình, Bianchi đã bào chữa cho bản thân mình rằng hắn đã mắc bệnh tâm thần, khẳng định rằng một nhân cách khác mang tên Steve Walker đã ra tay hãm hiếp và hạ sát những người phụ nữ kia. Hành động “giả điên” ấy của hắn thậm chí đã đánh lừa được một số chuyên gia – những người sau đó đã đưa ra chẩn đoán rằng Bianchi đã mắc chứng Rối loạn Đa nhân cách.

Nhưng những nhà điều tra đã nhờ tới một chuyên gia tâm thần học khác để xác định lại vấn đề, tên ông là Martin Orne.

Khi mà bác sĩ Orne gợi ý với Bianchi rằng trong một trường hợp mắc chứng rối loạn này, thì người bệnh sẽ thường phát triển 3 tính cách hoặc nhiều hơn nữa và dựa vào lời phán của bác sĩ, Bianchi đã tự tạo cho mình một tính cách nữa mang tên “Billy”, nhằm để cho các nhà điều tra không nghi ngờ mình.

Sau này, các điều tra viên cũng phát hiện ra rằng cái tên “Steve Walker” là danh tính của một học sinh mà Bianchi đã cố gắng đánh cắp trước đây, khi hắn cố “đóng giả” tính cách mang tên Steve Walker. Cảnh sát cũng tìm thấy nhiều tài liệu liên quan tới các bệnh tâm lý hiện đại, nhằm giúp hắn nghiên cứu và hoàn thiện “vở kịch” của mình hơn, nhằm chuẩn bị cho trường hợp bị bắt.

Việc tính cách thứ 3 xuất hiện một phần đã làm bác sĩ Orne nghi ngờ “căn bệnh” mà Bianchi đang mắc phải. Nhân cách thứ ba, Billy, xuất hiện khi Bianchi bị “thôi miên” và khi đó, hắn ta làm theo sự gợi ý của Orne là hãy tưởng tượng vị luật sư của hắn đang ở trong phòng. Bianchi còn thực sự bắt tay với vị luật sư tưởng tượng đó, một hành vi cực kỳ không bình thường với những người bị thôi miên. Và thế là Orne kết luận rằng Bianchi không mắc chứng Đa Nhân Cách.

Bị vạch mặt, cùng với việc hắn muốn nhận thêm sự khoan hồng từ phía tòa án, Bianchi đã thừa nhận việc giả bệnh cũng như làm chứng trước tội ác của Buono. Cả hai đã bị bỏ tù với những tội ác nêu trên. Buono nhận án chung thân và đã chết trong tù hồi năm 2002; Bianchi cũng nhận án chung thân, đã nộp đơn cam kết xin tha vào năm 2010 nhưng bị từ chối.

Số người mắc chứng bệnh Rối loạn Tách rời Nhận Thức hay Rối loạn Đa nhân cách không phải là nhiều, nhưng từng đó là đủ để chứng minh căn bệnh này hoàn toàn có thực. Họ cho chúng ta thấy được rằng não bộ con người vẫn là một bộ phận ẩn chứa rất nhiều bí mật hay thậm chí, còn là những tiềm năng mà con người chưa khám phá hết.

Hiện tại, các cụm rạp phim tại Việt Nam đang trình chiếu bộ phim Split – Tách Biệt, một bộ phim rất hay về căn bệnh Đa nhân cách độc đáo này. Bộ phim đến từ đạo diễn M. Night Shyamalan, người vẫn nổi tiếng với những plot twist – những kết thúc phim bất ngờ, sẽ không khiến bạn thất vọng như The Last Airbender ngày nào đâu.


Và phải chăng là não bộ của con người có thể chứa được nhiều suy nghĩ và nhân cách khác nhau của chúng ta như vậy không thì hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

1. Bệnh đa nhân cách là gì?

Bệnh đa nhân cách là căn bệnh rối loạn về tâm lý khiến người bệnh có ít nhất 2 nhân cách hoàn toàn trái ngược nhau trong con người của mình.

Thông thường căn bệnh này thường đi kèm với chứng mất trí nhớ mà không thể giải thích được.

Bệnh đa nhân cách là gì?

Ngoài ra bệnh đa nhân cách còn là bệnh lý về tâm thần mất nhận thức về bản thân và người bệnh thường tự mình hóa thành người khác.

Tuy nhiên sự đa nhân cách này thường không vững chắc mà chỉ cần một chấn động nhẹ về mặt tinh thần cũng có thể làm mất nhân cách và biến sang một nhân cách khác.

Những người bị mắc bệnh rối loạn đa nhân cách thường phải chịu những biến chứng tâm lý vô cùng phức tạp.

Họ bị hai hay nhiều nhân cách khác nhau chi phối, thâm chí còn bị giằng xé cùng một lúc với 2 nhân cách hoàn toàn khác biệt nhau trong họ.

Đa số những người mắc bệnh đa nhân cách đều không thể có một cuộc sống bình thường thậm chí còn ảnh hưởng rất xấu đến hạnh phúc của những người đó.

Tuy nhiên với căn bệnh ở mức độ nhẹ có thể có một cuộc sống bình thường nhưng nếu thời gian này kéo dài cộng thêm những áp lực khác nhau từ cuộc sống sẽ làm căn bệnh này của người bệnh tăng lên nhanh chóng và gây ra vấn đề xấu về cảm xúc lẫn chức năng tâm lý người bệnh.

2. Nguyên nhân

Hiện nay có rất ít các nghiên cứu về căn bệnh này nhưng các chuyên gia nhận định rằng nguyên nhân gây ra bệnh này không chỉ có một mà sự kết hợp nhiều yếu tố khác nhau:

Nguyên nhân dẫn đến bệnh rối loạn đa nhân cách

Tính di truyền

Rối loạn nhân cách có thể là căn bệnh do tính di truyền. Nếu gia định bạn có một người bị bệnh này thì nguy cơ bạn bị bệnh cao hơn gấp 5 lần so với người thân bạn mắc bệnh.

Do môi trường sống

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân mắc bệnh rối loạn nhân cách. Một trong các nguyên nhân quan trọng dẫn đến bệnh này đó là sự tổn thương từ thời ấu thơ bị ngược đãi hay cha mẹ ly hôn, mất sớm.

Do vậy trẻ nhỏ thiếu đi tình yêu thương ấm ấp từ phía cha mẹ, thiếu đi sự chăm sóc mà từ đó dẫn đến tổn thương.

Bởi các tác nhân có hại

Các tác nhân có hại như: giang mai, nghiện rượu, thụ thai khi bố hoặc mẹ đang say rượu, các chấn thương sản khoa, nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc từ trong bào thai hoặc khi còn nhỏ đã gây ra rối loạn phát triển chức năng của não, dần dần làm thay đổi nhân cách của trẻ.

Ngoài ra nếu từ nhỏ trẻ sống trong một môi trường giáo dục thiếu tế nhị, không lành mạnh, không phù hợp với lối sống có văn hóa.

Qua đó dẫn đến tình trạng stress kéo dài làm cho sự phát triển tâm thần ở lứa tuổi của trẻ em bị lệch lạc. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến rối loạn nhân cách trong mỗi người.

Một số nguyên nhân khác

Ngoài ra, hiện nay cũng có rất nhiều vụ quấy rối tình dục trẻ em hay các vụ ấu dâm. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên bệnh đa nhân cách.

Trẻ nhỏ lúc này đã chịu một cú sốc quá lớn khiến chúng không thể chống chọi được do đó gây nên nhiều bệnh lý cho trẻ.


Về các yếu tố thần kinh hay chấn thương sọ não cũng được coi là một phần nguyên nhân gây nên rối loạn đa nhân cách.

Do bệnh lý ở mỗi cá nhân là khác nhau nên có thể do bệnh bẩm sinh của bào thai hoặc từ nhỏ đã ở trong một cuộc sống không thuận lợi dẫn đến bất ổn về mặt nhân cách.

3. Triệu chứng

Các triệu chứng thường gặp

Các bệnh nhân rối loạn đa nhân cách có thể trí tuệ của họ rất bình thường thâm trí còn phát triển khá tốt. Tuy nhiên họ lại không để điều khiển được hành vi cũng như cảm xúc của chính mình.

Về nhận thức

Người mắc bệnh đa nhân cách thường có những tính cách khác biệt nhau, họ có thể không nhớ bất cứ ký ức nào trước đó. Sự biến đổi về tính cách của người bệnh xảy ra thường xuyên và mang tính bền vững, lâu dài.

Người mắc bệnh này có thể đột ngột thay đổi hoàn toàn về chủ đề cũng như lối tư duy của chính họ. Họ cũng có thể mất khả năng thiếu tập trung trong thời gian dài.

Người bệnh có thể có những suy nghĩ nghi ngờ rằng có nhiều người thù ghét mình, lợi dụng, lừa gạt và tìm cách hãm hại mình.

Họ nghi ngờ lòng chung thủy của vợ chồng, bè bạn mà không có cơ sở, dẫn đến những hành vi, thái độ không thích hợp. Họ có những niềm tin kỳ lạ, mê tín dị đoan thái quá.

Người bệnh luôn coi mình là trung tâm của sự chú ý, từ đó có những hành vi, thái độ kỳ dị để lôi kéo sự quan tâm của mọi người.

Họ thiếu ăn năn với những lỗi lầm của mình và thường xuyên tái phạm, thiếu trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, sống ích kỷ, mê mải với bản thân.

Từ đó, họ có những hành vi, thái độ không thích hợp để phục vụ cho chính nhân cách của mình.

Về hành vi

Người bệnh dễ bị kích động gây ra hận thù, dối trá, lừa lọc với người thân trong gia đình. Một số lại miễn cưỡng, tránh né trong các hoạt đông tập thể, chỉ dám làm việc một mình.

Người mắc bệnh đa nhân cách thường có những hành động kỳ dị gây tổn hại đến đời sống xã hội, nghề nghiệp hoặc các hoạt động hằng ngày khác.

Tuy rối loạn đa nhân cách rất hiếm gặp nhưng nếu bạn cảm thấy mình có những triệu chứng trên thì tốt nhất nên đi khám để tìm cách chữa trị kịp thời.

4. Cách điều trị


Bởi vì  bệnh đa nhân cách là căn bệnh trìu tượng nên rất khó có thể điều trị bằng thuốc như các bệnh lý thường gặp khác.

Vì vậy, việc điều trị bệnh đa nhân cách là một quá trình kéo dài cả đời người. Khi điều trị bệnh rối loạn đa nhân cách, bạn cần tuân thủ những hướng dẫn của chuyên gia.

Để điều trị chứng rối loạn đa nhân cách các chuyên gia thường áp dụng một số phương pháp sau:

Cách điều trị bệnh đa nhân cách

Liệu pháp tâm lý

Điều trị theo phương phương pháp này để tính cách con người hướng đến những nhân tố bên trong trong cơ thể người bệnh để bệnh nhân hiểu được cảm xúc của chính mình.

Phần lớn biện pháp này hướng tới khía cạnh như suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và thái độ của người bệnh.

Tuy nhiên phương pháp này chỉ có hiệu quả khi điều trị trong thời gian ngắn. Nhưng một số khác lại nói rằng nó chỉ có hiệu quả khi điều trị dài hạn.

Một số người còn dùng cả thuật thôi miên để kéo người bệnh ra khởi trạng thái hỗn loạn.

Ngoài ra một số bác sĩ còn chữa trị cho người mắc bệnh đa nhân cách  bằng cách cho người bệnh đối thoại với chính mình và đã có trường hợp thành công.

Liệu pháp cộng đồng

Liệu pháp cộng đồng đưa người bệnh vào cuộc sống cộng đồng trong vài tháng.

Biện pháp này phải là sự tự nguyện từ phía bệnh nhân. Và trách nhiệm cần được chia sẻ bởi cả bệnh nhân và các nhân viên, y bác sĩ.

Họ cũng được khuyến khích nghĩ về hành vi của họ tác động đến người khác như thế nào.

5. Phòng ngừa bệnh

Do những nguyên nhân gây ra bệnh còn chưa được làm rõ, dẫn đến những biện pháp phòng tránh bệnh đa nhân cách cũng chưa được xác định cụ thể.

Nhưng các nhà khoa học cũng đã chứng minh được rằng, nếu có một lối sống lành mạnh, có một nhân cách mạnh mẽ, biết tiếp nhận và xử lý thông tin một cách thông minh và tỉnh táo thì người ta có thể tự bảo vệ được mình trước chứng rối loạn đa nhân cách.

Lối sống phù hợp

Sau những giờ làm việc và học tập mệt mỏi thì các bạn có thể dành ít thời gian để hoạt động hay tập thể dục để tránh stress, trầm cảm, lo âu.

Để tránh những điều đáng tiếc xảy ra bạn nên bài trừ các tệ nạn cũng như bảo vệ trẻ em hay phụ nữ.

Tránh sử dụng các chất kích thích

Rượu và ma túy bất hợp pháp có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng rối loạn nhân cách hoặc tương tác với thuốc.


Đừng bỏ qua kiểm tra hoặc bỏ qua đến gặp bác sĩ gia đình, đặc biệt là nếu không thấy khỏe. Có thể có một vấn đề sức khỏe mới cần phải được giải quyết, hoặc có thể gặp tác dụng phụ của thuốc.

Đơn giản hóa cuộc sống

Cắt giảm các nghĩa vụ khi có thể, và thiết lập thời gian biểu hợp lý cho mục tiêu.

Viết nhật ký để bày tỏ nỗi đau, sự giận dữ, sợ hãi hay cảm xúc khác.

Đọc sách có uy tín để tự giúp đỡ và xem xét nói với bác sĩ hoặc chuyên gia trị liệu.

Bạn cũng nên lập kế hoạch làm việc cho chính mình và tìm thấy sự yêu thích từ chính công việc bạn đang làm.

Việc điều trị bệnh đa nhân cách không hề dễ dàng bởi vậy cần phải điều trị càng sớm càng tốt.Bài viết trên đây chỉ mang tính chất tham khảo dựa trên hiểu biết của cá nhân về bệnh đa nhân cách để bạn có cái nhìn nhận tổng thể về căn bệnh này.


Bệnh đa nhân cách hay rối loạn phân ly nhân cách là một tình trạng về tâm lý gây ra bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong đó bao gồm những sang chấn trong thời niên thiếu (thường là sang chấn nặng nề, do lạm dụng thể xác, lạm dụng tình dục hay lạm dụng về cảm xúc bị lặp đi lặp lại nhiều lần).

Tình trạng mơ màng cũng là một dạng phân ly nhân cách nhẹ.

Đa nhân cách là gì?


Hầu hết chúng ta đều từng trải qua tình trạng phân ly nhân cách nhẹ, ví dụ mơ màng ban ngày hay cảm thấy trống rỗng khi đang làm việc. Tuy nhiên, đa nhân cách là một dạng khá nặng của sự phân ly nhân cách, một tình trạng mà khi tâm thần của chúng ta mất đi sự kết nối giữa những suy nghĩ, trí nhớ, hành động, cảm giác hoặc cảm giác tồn tại của bản thân.


Bệnh đa nhân cách được cho rằng có nguyên nhân từ sự kết hợp của nhiều yếu tố, có thể gồm sang chấn mà người bị mắc chứng đa nhân cách phải trải qua. Khía cạnh phân ly nhân cách của cá nhân đó được cho rằng do cơ chế đối phó – đó là người mắc bệnh tự phân ly cơ thể của mình khỏi những tình huống quá bạo lực, quá đau khổ mà họ phải trải qua.

Khả năng ghi nhớ của người bệnh cũng thay đổi theo nhân cách người đó đang có.

Người bệnh đa nhân cách thường có các biểu hiện nào?


Ở người bệnh đa nhân cách thường xuất hiện hai hay nhiều hơn các tính cách của họ hiện có, mà những tính cách đó có ảnh hưởng đến các hành vi của người bệnh. Ngoài ra, người mắc bệnh đa nhân cách còn bị mất khả năng nhớ lại các thông tin chính yếu của bản thân, họ chỉ có thể đơn thuần nói rằng mình đã quên những thông tin đó. Về khả năng ghi nhớ của người bệnh, còn một dạng nữa là tùy theo nhân cách người bệnh thể hiện, khả năng ghi nhớ của họ cũng sẽ thay đổi theo đó.

Các nhân cách thay thế có giới tính, chủng tộc, hay tuổi riêng biệt. Mỗi nhân cách lại có những dáng đi, điệu bộ và cách nói chuyện riêng biệt. Đôi khi, những nhân cách thay thế là những nhân vật tưởng tượng, thậm chí là những con vật. Khi mỗi nhân cách bộc lộ ra và điều khiển người bệnh, tình trạng đó gọi là “sự chuyển đổi”. “Sự chuyển đổi” có thể kéo dài từ vài giây, vài phút, cho đến vài ngày.


Ngoài ra, người bị đa nhân cách còn có thể có các vấn đề khác nữa như:

Trầm cảm Sự thay đổi cảm xúc Xu hướng tự tử Bệnh lý về giấc ngủ Mệt mỏi, uể oải Lạm dụng rượu và ma tuý

Đa nhân cách ảnh hưởng tới cuộc sống của người bệnh thế nào?

Bệnh rối loạn nhân cách có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của một người như sau:

Huỷ hoại nhân cách: Là một dạng mà người bệnh cảm thấy gần như tách rời khỏi bản thể và cảm giác mình là một người khác

Sự mất thực tế: Là một cảm giác thấy thế giới dường như không thực tế, trông mờ ảo và xa xăm

Sự lẫn lộn nhân cách/hay sự thay đổi nhân cách : Cả hai tình trạng này đều nói đến cảm giác lẫn lộn không biết đích xác bản thân mình thật sự là ai.

Một người bị rối loạn nhân cách phải mất khoảng 7 năm mới có thể xác định bệnh.

Chứng rối loạn nhân cách được chẩn đoán thế nào?


Để chẩn đoán chứng rối loạn nhân cách cần tốn khá nhiều thời gian. Người ta ước lượng, một người bị rối loạn nhân cách phải mất 7 năm ở những cơ sở chăm sóc sức khoẻ tâm thần thì mới được chẩn đoán một cách chính xác. Điều này khá thường gặp, bởi danh sách các triệu chứng của bệnh đa nhân cách khá giống với những chẩn đoán bệnh tâm thần khác.


Thực tế khá nhiều những người bị đa nhân cách cũng được chẩn đoán mắc các bệnh tâm thần khác đồng thời như rối loạn lo âu, trầm cảm…. Hiện nay, để chẩn đoán chứng rối loạn nhân cách, người ta dùng bảng phân loại DSM – 5.

Bệnh đa nhân cách có thuốc chữa không?


Vì bệnh đa nhân cách hiện tại chưa có thuốc chữa khỏi hoàn toàn nên những phương pháp điều trị lâu dài sẽ có thể hữu ích hơn nếu bệnh nhân tuân thủ tốt. Những phương pháp điều trị hiệu quả bao gồm: liệu pháp nói chuyện, liệu pháp tâm lý, liệu pháp thôi miên hay những liệu pháp hỗ trợ như nghệ thuật… Ngoài ra, việc chữa trị những bệnh lý đi kèm như trầm cảm, hoặc lạm dụng các chất kích thích cũng là nền tảng để giúp bệnh nhân cải thiện tốt.


Theo thống kê, tỉ lệ người mắc bệnh đa nhân cách chiếm từ 0,01 -  1% dân số. Đây thật sự là một con số không nhỏ. Và hơn thế, hiện nay, bệnh lý đa nhân cách vẫn chưa có thuốc điều trị, và chưa có phương pháp điều trị dứt điểm. Chính vì thế, hãy siêng năng tập luyện thể dục thể thao để có một cơ thể khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, tránh xa các loại chất kích thích, chất gây nghiện, từ đó giúp tránh xa căn bệnh đa nhân cách khó chữa này.

Đa nhân cách là đề tài quen thuộc trong điện ảnh, đặc biệt với các phim thuộc thể loại tâm lý, ly kì và kinh dị.

Psycho (1960)

Psycho (1960) là tác phẩm giật gân kinh điển của đạo diễn bậc thầy người Anh – Alfred Hitchcock, một trong những bộ phim đầu tiên giúp công chúng biết đến căn bệnh rối loạn đa nhân cách.

Nhân vật chính của phim là Norman Bates (do nam diễn viên Anthony Perkins thủ vai), một chủ nhà nghỉ gặp vấn đề về tâm lí và luôn bị ám ảnh bởi người mẹ quá cố. Không thể vượt qua được cái chết của người mẹ, dần dần trong Norman hình thành nên một nhân cách mới với tính cách vô cùng cay nghiệt, chính là mẹ hắn. Norman đã “hóa thân” thành bà mẹ để thực hiện các vụ sát hại những vị khách xấu số đến trọ tại nhà nghỉ của hắn.


Với một cốt truyện độc đáo cùng dàn diễn viên xuất chúng, Psycho gây sốt ngay từ khi mới ra mắt. Nhờ vai diễn phản diện Norman Bates trong Psycho, nam tài tử Anthony Perkins được người xem hết lời ca ngợi nhờ sự hóa thân thực sự khác thường. Phim được đề cử bốn tượng vàng Oscar và trở thành bộ phim nổi tiếng nhất của Alfred Hitchcock cũng như tượng đài của dòng phim kinh dị .

Fight Club (1999)

Tác phẩm kể về một chàng trai trẻ quá nhàm chán và tuyệt vọng với cuộc sống công sở vô vị tình cờ gặp được Tyler Durden, một gã trai nổi loạn sống ngoài vòng xã hội và họ rủ nhau thành lập “câu lạc bộ chiến đấu” (Fight Club) nơi mà tất mọi người đàn ông đến lao vào các cuộc đánh nhau tay đôi, quên hết cuộc sống xã hội của họ.

Bộ phim có một cú twist (nút thắt) bất ngờ mở ra sự thật khó có thể ngờ tới rằng chàng trai trẻ kia bị mắc chứng rối loạn đa nhân cách và tất cả những rắc rối mà anh ta tưởng rằng nguyên nhân là Tyler Durden lại chính là do anh ta đã tự chuốc lấy.


Ra mắt cách đây gần 2 thập kỉ nhưng cho tới tận bây giờ, Fight Club vẫn nguyên vẹn giá trị của một tượng đài phim tâm lí học và rất nhiều lần lọt “top phim hay nhất mọi thời đại” được bình chọn bởi các tạp chí uy tín hàng đầu. Kịch bản giật gân, sâu sắc khiến phim ngày càng có giá trị. Đây cũng là bộ phim kinh điển đánh dấu mốc son trong chặng đường hoạt động nghệ thuật của nam tài tử Brad Pitt.

Identity (2003)

Malcolm Rivers, một tử tù đang chờ hành quyết vì tội giết người, được quan toà xem xét giảm án với chứng cứ mới thu thập được. Trong lúc đó, mười vị khách xa lạ mắc kẹt tại một quán trọ hẻo lánh giữa đêm bão tố kinh hoàng. Họ bao gồm một cựu cảnh sát lái limousine, một nữ diễn viên nổi tiếng, một cô gái hành nghề mại dâm, một viên cảnh sát đang giữa đường áp giải một tên giết người hàng loạt, một đôi tình nhân mới cưới mê tín và một cặp vợ chồng có đứa con nhỏ bị câm.

Đêm định mệnh bắt đầu bằng cái chết của Caroline – cô diễn viên xinh đẹp được tìm thấy với phần đầu nằm trong chiếc máy sấy quần áo. Một trong số chín kẻ còn lại hoặc ông chủ quán trọ là tên sát nhân, và cũng chỉ một người duy nhất toàn mạng rời khởi quán trọ.

Identity là một bộ phim hình sự liên quan đến những người mắc bệnh tâm thần đa nhân cách. Sự kiện bản án của Malcolm được cứu xét và những cái chết bí ẩn ở cái motel hẻo lánh kia hình như chẳng ăn nhập gì với nhau. Thế mà tất cả lại được ràng buộc chặt chẽ bằng những sợi dây vô hình trong một tổng thể hữu cơ mật thiết và được điều khiển từ một bộ óc “tinh vi”.

Kẻ tâm thần cũng có lành – dữ, trí tưởng tượng cũng phân chia thiện – ác. Với đời sống nội tâm phong phú, cùng các sản phẩm tinh thần dồi dào đa dạng, con người luôn tự hào trước các thực thể sống khác khi chỉ vào não bộ và dõng dạc tuyên bố “Trí khôn của ta đây”. Một ân sủng của tạo hóa, kẻ ít người nhiều ai cũng có phần, kể cả… người điên. Một lần nữa, các nhà làm phim khẳng định lại điều đó.

A Tale of Two Sisters (2003)

Dựa trên một tích cổ của Hàn Quốc, A Tale of Two Sisters từng nhiều lần được chuyển thể thành phim, trong đó, phiên bản điện ảnh 2003 là tác phẩm thành công nhất.

Sau thời gian trị bệnh, Su-mi trở về biệt thự vùng quê sống cùng cha, em gái Su-yeon và người mẹ kế độc ác Eun-joo. Kể từ sau sự trở về của Su-mi, hàng loạt hiện tượng kỳ quái xảy ra, trong đó có sự xuất hiện của hồn ma người mẹ ruột. Mối thâm thù giữa hai chị em và mẹ kế ngày càng căng thẳng, đỉnh điểm là cái chết của Su-yeon do  Eun-joo ra tay sát hại.

Nhưng sau đó, phim khiến khán giả phải kinh ngạc khi tiết lộ toàn bộ diễn biến từ đầu phim chỉ là tưởng tượng của Su-mi, người mắc chứng đa nhân cách lúc là chính mình, lúc tự đóng vai Eun-joo. Tác phẩm không dừng lại tại đây khi nhân vật mẹ kế thật xuất hiện, hé lộ nguyên nhân thật sự đằng sau cái chết của người mẹ ruột, cô em Su-yeon cũng như sự trả thù của các hồn ma chưa yên nghỉ.

The Machinist (2004)

Đối với những ai ưa thích thể loại tâm lý, mạch phim chậm rãi nhưng khiến người xem phải suy ngẫm lâu dài thì The Machinist là một cái tên đáng chú ý.

The Machinist (Gã thợ máy) xoay quanh câu chuyện của Trevor Reznik, một người thợ tiện bị chứng mất ngủ suốt một năm trời khiến anh gầy rộc như một bóng ma. Trevor đối mặt với những chuyện kỳ lạ diễn ra ở xưởng làm việc và trong nhà mình, bị ám ảnh bởi một đồng nghiệp mà không một ai nghĩ rằng hắn thật sự hiện diện và bị cuốn vào trò “mèo vờn chuột” của một kẻ bí ẩn luôn gửi lại lời nhắn trên tờ ghi chú dán trên tủ lạnh trong phòng anh.

Khoảng đầu bộ phim mọi thứ trôi qua khá chậm rãi, có thể khiến bạn khó chịu. Tuy nhiên càng về cuối phim, tiết tấu nhanh dần lên khi sự thật về Trevor và những điều kỳ lạ trong đời anh ngày một sáng tỏ. Bạn sẽ nhận ra điều gì đã khiến con người tội nghiệp đó không thể ngủ được trong suốt một năm trời. Những hình ảnh mà Trevor nhìn thấy không hẳn là sự hoang tưởng mơ hồ mà nó dựa trên một kí ức đau đớn và tội lỗi.

Mr. Brooks (2007)

Earl Brooks (Kevin Costner) là người đàn ông sở hữu hai nhân cách đối lập. Đằng sau danh tiếng của một doanh nhân thành đạt đáng ngưỡng mộ, Mr. Brooks bị điều khiển bởi Marshall (William Hurt) – nhân cách của một kẻ khát máu điên loạn.

Trong lần hạ sát một cặp tình nhân để thoả mãn bản năng, Marshall bị một tên điên loạn khác là Mr. Smith (Dane Cook) bắt gặp. Cùng nhau, cả hai tiếp tục sa vào những vụ giết người vô tội, mặc cho Mr. Brooks cố gắng kìm hãm bản năng và che giấu tội ác trước khi bị vạch trần. Mọi chuyện trở nên phức tạp khi nữ đặc vụ Tracy Atwood (Demi Moore) mở lại hồ sơ điều tra các vụ giết người do Marshall gây ra.

Black Swan (2010)

Black Swan là câu chuyện về Nina (do Natalie Portman thủ vai), một nữ vũ công triển vọng, tài năng của New York, Mỹ. Mơ ước lớn nhất trong đời cô là được hóa thân thành Swan Queen trong vở nhạc kịch Hồ thiên nga.

Cơ hội đến với Nina khi giám đốc nhà hát quyết định tìm một gương mặt mới cho vở ballet này. Tuy nhiên, cô gái được lựa chọn phải có khả năng thể hiện được cả hai hình ảnh với hai nhân cách đối lập – Thiên nga trắng mong manh, thánh thiện và Thiên nga đen cám dỗ, xảo quyệt. Nina là lựa chọn hoàn hảo cho Thiên nga trắng nhưng giám đốc nhà hát lại tỏ ra phân vân khi cô chưa lột tả được hình ảnh tăm tối của Thiên nga đen.

Cùng lúc đó, Lili (do Mila Kunis thủ vai) – một vũ công trẻ có lối sống đầy phóng túng xuất hiện và Nina bắt đầu bị giằng xé giữa một bên là nhân cách của chính cô và một bên là những cố gắng để mô phỏng được tính cách hoang dã như Lili để vào vai Thiên nga đen. Với Black Swan, khán giả được dẫn bước vào một thế giới ly kì và bí ẩn của những vũ công cũng như những góc tối lẩn khuất nhất của tâm hồn con người.

Shutter Island (2010)


Shutter Island là tác phẩm thuộc thể loại tâm lí – li kì được dựa trên cuốn sách cùng tên của tác giả Dennis Lehane. Bộ phim do đạo diễn Martin Scorsese thực hiện khiến khán giả phải tò mò từ đầu đến cuối khi lần theo dấu chân của viên cảnh sát Teddy Daniels (do nam tài tử Leonardo DiCaprio thủ vai).

Câu chuyện bắt đầu với việc Teddy cùng một đồng nghiệp tới hòn đảo Shutter Island để điều tra một vụ mất tích bí ẩn tại trại thương điên. Một bệnh nhân nữ từng giết chết các con mình đã biến mất và chỉ để lại một mẩu giấy manh mối bí ẩn. Hành trình điều tra của Teddy đầy trắc trở trên hòn đảo nhiều cạm bẫy và đầy rẫy nhân vật bí hiểm…

Kịch bản phức tạp cùng một cái kết bất ngờ, âm nhạc bổ trợ hoàn hảo cho các trường đoạn quan trọng, dàn diễn viên nhập vai xuất sắc, không có gì ngạc nhiên khi Shutter Island đạt mức doanh thu 294 triệu USD và nhận được nhiều lời ngợi ca nhờ mê cung bí ẩn mà đạo diễn đã khéo léo tạo nên xuyên suốt bộ phim.

Split (2017)

Split là kiệt tác mới nhất của đạo diễn người Mỹ gốc Ấn M. Night Shyamalan. Sau khi phát hành, bộ phim đã trở thành hiện tượng phòng vé khi thu về hơn 240 triệu USD chỉ với ngân sách vỏn vẹn 9 triệu USD.


Bộ phim xoay quanh Kevin ( James McAvoy thủ vai), một thanh niên mắc chứng tâm thần đa nhân cách. Bên trong tâm trí của hắn là 23 nhân cách với 23 cá tính khác biệt. Kevin bắt cóc ba học sinh nữ giữa ban ngày, tin rằng họ sẽ là cầu nối giúp hắn “thức tỉnh” nhân cách thứ 24 – Quái thú (The Beast). Bị nhốt trong căn hầm tối, cô độc và bất lực, ba thiếu nữ phải làm tìm cách sinh tồn trước gã đàn ông quái dị.

Thành công lớn của kịch bản bắt đầu từ việc khai thác nội tâm sâu sắc của nhân vật phản diện. Với người ngoài, Kevin chỉ là một kẻ bệnh hoạn, một cá nhân nguy hiểm đối với xã hội. Nhưng với hắn, mỗi nhân cách là một sự tiến hóa, là những người anh em được sinh ra trong tâm trí vào lúc khốn cùng nhất. Họ đùm bọc lẫn nhau như một gia đình, cùng sinh tồn trong thế giới xa lạ và thù địch. Chính sự phức tạp và lớp lang trong tâm lí của Kevin đã lôi cuốn người xem, vừa ghê sợ lại vừa cảm thông cho hắn.

Cuộc hành trình đi sâu vào mê cung của những biến chuyển tâm lí, đặc biệt là những tâm lí dị thường như căn bệnh đa nhân cách luôn là một trải nghiệm chứa đựng nhiều hồi hộp và bất ngờ cuốn hút khán giả theo dõi.

Theo các chuyên gia tâm lý học, có tới 4% người trên Trái đất là những người "thái nhân cách" (Psychopath).

Hiểu 1 cách đơn giản, Psychopath là một trong nhiều dạng khác nhau của rối loạn đa nhân cách. Trong tiếng Việt, khái niệm này có thể tạm dịch là "rối loạn nhân cách chống đối xã hội".

Khác với những người bị chứng rối loạn đa nhân cách được xếp vào dạng bệnh tâm thần phân liệt - vốn chỉ biểu hiện ở sự mất nhận thức về bản thân, thường ngộ nhận mình với người khác; thì một Psychopath lại hoàn toàn hiểu mình nhưng lại che giấu con người thật bằng nhiều chiếc mặt nạ khác nhau.

Và đây là 1 trong những dấu hiệu để bạn nhận biết người xung quanh bạn có phải là 1 nhân vật của Psychopath không.


1. Không có cảm xúc

Theo bác sĩ tâm lý Scott Bonn, những người Psychopath không thường mấy khi thể hiện cảm xúc trước bất kỳ 1 sự vật, hiện tượng nào.


Đôi khi nhìn thấy 1 ai đó buồn, bạn có thể đến an ủi, ôm người ấy... nhưng bạn sẽ tuyệt nhiên không thấy điều này ở người rối loạn nhân cách này. Nhiều nghiên cứu còn chỉ ra rằng, những Psychopath còn không hề cảm thấy sợ hãi.


2. Ngủ rất ít

Các nghiên cứu đã chỉ ra hầu hết những người có vấn đề về tâm lý đều ngủ ít hơn so với người bình thường. Thông thường, mỗi ngày họ chỉ ngủ từ 4 - 6 giờ thôi.


Điều này được lý giải là do họ dễ bị kích động, luôn trong trạng thái căng thẳng nên khó ngủ yên giấc. Bù lại, những người này lại luôn nói mình không cảm thấy mệt hay kiệt sức vì dây thần kinh luôn được kích thích hoạt động mạnh mẽ.


3. Thích làm cho người khác cảm giác có lỗi


Theo chuyên gia tâm lý, những người này thường không bao giờ nhận lỗi của mình cả. Ngoài ra, họ thường cướp lời người khác và diễn giải để người ta cảm thấy lỗi đó thuộc về bạn hoặc 1 ai khác, không phải mình.


Ngoài ra, những Psychopath cũng thích kích động để bạn dễ "tức điên" lên, thể hiện những mặt xấu của mình. Đơn giản vì họ thích thế.


4. Thích thể hiện và luôn có sức hút đặc biệt


Có một sự thật là những người rối loạn nhân cách đều rất thích được chú ý và bản thân họ cũng sở hữu 1 điểm cực kỳ quyến rũ. Giống như diễn viên, họ đeo mặt nạ thân thiện, vì vậy họ có thể làm cho bất cứ ai tin tưởng mình bằng lời nói ngọt ngào.


Lúc đầu gặp gỡ, họ sẽ khiến người đối diện cảm thấy có thật nhiều điểm chung, những lời khen, sự quan tâm dường như nhiều vô kể. Nhưng thật ra, những người rối loạn nhân cách này muốn bạn thích, tin tưởng họ chỉ để dễ bề "thao túng" trong tương lai mà thôi.


5. Rất yêu bản thân


Những người Psychopath luôn cho mình đẹp nhất nên luôn phơi bày những điểm tốt của bản thân và chăm chăm nhìn vào lỗi lầm người khác. Thích t hể hiện thành tích và yêu thích được khen gợi là đặc điểm của những người này.


6. Luôn nói dối

Những người có vấn đề về tâm lý thường nói dối để đạt được điều mình mong muốn. Họ không cảm thấy xấu hổ về điều này và cũng chẳng lo sợ khi mình bị phát hiện.


Ngoài ra,  những người này còn l uôn tìm cách lấp liếm được để thoát khỏi bất kỳ tình huống bất lợi nào nữa cơ.


7. Vô trách nhiệm, luôn phá vỡ quy tắc


Luôn phủ nhận trách nhiệm về hành động, hậu quả mình gây ra là đặc điểm rất rõ của người rối loạn nhân cách chống đối xã hội.


Như nói ở trên, họ sẽ nhanh chóng tìm ra một người có thể đổ lỗi hoặc nói rằng đây là giải pháp duy nhất trong tình huống đó và họ không thể làm gì hơn. Và cũng chính vì luôn coi mình là nhất nên họ thích phá vỡ quy tắc, khuyến khích người khác làm như mình.


Tuy nhiên, bạn vẫn có thể nhận biết được người không tốt bằng cách cảm nhận và lí trí của riêng mình. Trong trường hợp đó, bạn có thể tạo khoảng cách trong quan hệ với họ để ít nhất, những người đó không thể gây bất cứ tổn hại gì cho chính bạn.


TỔNG QUÁT

Các rối loạn nhân cách là một tập hợp các trạng thái để biệt định các đối tượng có cách sống,cách cư xữ và cách phản ứng hoàn toàn khác biệt với “người thường” nhưng lại không đủ các triệu chứng của một bệnh lý tâm thần đặc trưng.Nói vậy để thấy rằng khái niệm về rối loạn nhân cách (RLNC) là một khái niệm tiến triển và thay đổi theo sự phát triển của ngành tâm thần như sẽ được trình bầy trong phần lịch sử của từng loại nhân cách.

J.Reich cũng như Kaplan đều đưa ra các con số là từ  6 tới 11,1% dân số chung có vấn đề về rối loạn nhân cách.


LỊCH SỬ CHUNG

1809 PINEL đã mô tả những nét của các RLNC và gọi chúng là “khùng nhưng không hoang tưởng” (Manie sans délire).

ESQUIROL kế thừa quan niệm trên và ông đặt tên chúng là “khùng đơn thuần” (Mono manie) để phân biệt chúng với với các bệnh khác có các rối loạn ở mọi mặt hoạt độnhg tâm thần như sa sút,hưng cảm,trầm cảm..Ở đây ông nhấn mạnh chỉ có biến đổi đơn độc trên một vài mặt hoạt động tâm thần.

1835 PRITCHARD đã định nghĩa các RLNC theo thuyết hành vi.Các khía cạnh chống đối xã hội của một vài RLNC cho tới nay vẫn còn được giữ lại trong các tiêu chuẩn chẩn đoán.

1857 MOREL đã mô tả một loạt các RLNC trong chuyên luận về sa sút tâm thần.

1891 KOCH tách riêng các RLNC dưới danh xưng ”thái nhân cách thấp kém”

(les infériorités psychopathiques)

1895 MAGNAN cho rằng có thể có một liên hệ nào đó nhằm dự báo trước các bất thường về nhân cách,các vẻ bề ngoài đặc trưng và các rối loạn tâm thần.

1904 KRAEPELIN đưa ra bản mô tả của ông về các RLNC (Personnal psycho-   patériques)

1923 SCHNEIDER đã mô tả 10 loại RLNC (bùng nổ,trầm cảm,bất định..)dựa trên các quan sát lâm sàng.Bảng phân loại của ông đã mở rộng diện quan sát đối với các RLNC và đã đặt nền tảng cho các phân loại sau này.

1972 trường phái SAINT-LOUIS (Hoa Kỳ) đã công bố bảng phân loại của họ,  chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn của FEIGHER thông qua các công trình theo dõi cá  nhân và gia đình.

1975 Viện Sức Khỏe Tâm Thần Hoa Kỳ (NIMH) đã tiến hành một cuộc điều  tra sâu rộng về tâm thần trong đó có đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán trong nghiên cứu đặc biệt là đối với các các RLNC (khí sắc tuần hoàn,bất định,phi xã hội,dạng  phân liệt).

Từ 1980 Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần III (DSM III) của Hiệp Hội các Bác Sĩ Tâm Thần Hoa Kỳ (APA) rồi tiếp đến các phiên bản IIIR rồi IV và gần đây là DSM IV TR ,trên bình diện quốc tế là chương V của Bảng Phân Loại Quốc Tế Bệnh Tật (ICD) lần 9 rồi 10 của OMS dành cho các rối loạn tâm thần là những hệ thống phân loại được thừa nhận toàn cầu,trong đó các RLNC đuợc ghi nhận trong nhóm 301 của DSM và nhóm F 60 của ICD.


ĐỊNH NGHĨA


1.      Thế nào là nhân cách bình thường?

Nhân cách bình thường thể hiện ở sự tuân thủ  các chuẩn mực đạo đức, các thể chế xã hội hiện hành. Sự bình thường còn được thể hiện ở tính đáp ứng đa dạng với những đòi hỏi của hoàn cảnh xung quanh.

Nhìn sâu hơn ta có thể dựa vào 3 yếu tố sau để quy định tính “bình thường” của nhân cách,đó là tính giá trị (la valeur),tính bình quân (la moyenne) và tính thích ứng (l’adaptation).

Tính giá trị: sự bình thưòng đi cùng với hình ảnh lý tưởng của một con người,  là những gì họ phải phấn đấu để trở thành,sự tuân thủ các chuẩn mực đạo đức hiện  hành. Từ quan điểm này ta thấy tất cả những hành vi không đáp ứng các quy chuẩn  lý tưởng và đạo đức hiện hành đều có thể xem như bất thường.

Tính bình quân : sự bình thường đồng hành với tính phổ biến,phù hợp với đại đa số. Thiểu số người lệch ra khỏi nhóm bình quân được xem như khác thường.

Tính đáp ứng : sự bình thường nằm trong việc đáp ứng linh hoạt đối với các thay đổi tình huống.Tất cả những đáp ứng máy móc,thiếu tính linh hoạt và lập đi lập lại đều phải xem xét về tính bất thưòng của chúng.


2.      Nhân cách bệnh lý

Ta nói tới tính bệnh lý khi nhân cách được xây dựng trên nền tảng của sự phòng thủ quá đáng của tính lo âu loạn thần kinh hoặc ngược lại đẩy bệnh nhân tới rìa biên giới giữa sự bình thường và thế giới phi thực tế của loạn thần.

Các định nghĩa về RLNC phổ biến hiện nay :


Theo SCHNEIDER:

“Nhân cách bệnh lý là những lệch lạc của nhân cách có thể lượng giá được,có tỷ lệ  thấp về thống kê và chính thái độ và hành vi của đối tượng gây nên đau khổ cho chính họ cũng như xung quanh ”


Theo DSM IV :

“RLNC là một dạng bất biến của quá trình sống và cư xử đi lệch ra ngoài nền văn hóa tương quan với người đó,có tính chi phối và cứng nhắc, thường xuất hiện vào đầu tuổi thanh thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành,hằng định với thời gian và là nguồn gốc gây đau khổ hoặc sút giảm chức năng”.


Theo ICD 10 :

“Rối loạn nhân cách bao gồm các dạng hành vi bền vửng và ăn sâu bộc lộ  qua sự đáp ứng cứng nhắc trong các hoàn cảnh cá nhân và xã hội khác nhau ”


3.      Ranh giới giữa RLNC và bệnh:

Cần phải rạch ròi để có thể tách ra những bất thường nằm trong tính cách và thái độ (RLNC) và các triệu chứng của các bệnh lý tâm thần.

Tác giả FOULDS đã đưa ra các tiêu chí sau :

Các nét tính cách thì có tính phổ biến và toàn cầu,trong khi các triệu chứng thì thường cục bộ hơn,thay đổi theo từng nền văn hóa.

Người RLNC thấy các nét tính cách của mình là hài hòa và phù hợp (syntône), trong khi người bệnh thì cảm thấy khó chịu với các triệu chứng (égodystonic)

Các nét tính cách thì hằng định và bền vững trong khi triệu chứng sẽ biến đổi theo thời gian.


4.      Các quan diểm phân loại các RLNC:

Các trường phái Pháp có quan điểm xem các RLNC như một dạng bệnh “nhẹ” hoặc tạo cơ địa cho các bệnh lý tâm thần thực thụ. Trong đó quan điểm của Kernberg

-rất được ưa chuộng-là chia RLNC thành 3 nhóm theo bản chất bệnh lý :

§        Nhóm tính cách cao: dạng loạn thần kinh (Hystérie, lệ thuộc,  suy nhược thần kinh, nhân cách thời kỳ hậu môn, ám ảnh cưởng chế)

§        Nhóm trung gian: có tính ranh giới phối hợp giữa nhóm loạn thần kinh đa dạng và các rối loạn cư xử (thái nhân cách,nhân cách rang giới)

§        Nhóm tính cách thấp : dạng loạn thần (Paranoiaque,phân liệt,chu kỳ,trầm cảm)

Hiện nay cả 2 cách phân loại quốc tế như DSM và ICD đều có khuynh hướng  tách ra khỏi các lý thuyết bệnh lý và đặt trọng tâm trên các biểu hiện lâm sàng và tiêu  chuẩn chẩn đoán với các tiêu chí sau về RLNC như sau :

o       Bất thường dai dẳng và hằng định.

o       Gây đau khổ và rối loạn chức năng xã hội.

o       Xuất hiện đầu tuổi thanh thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành .

o       Luôn xem xét tính hài hòa với nền văn hóa hiện hành của đối tượng.

Hiện tại DSM IV chia các RLNC thành 3 nhóm theo các biểu hiện lâm sàng :

Nhóm A : Kỳ quái / lập dị (NC Paranoiaque,phân liệt,dạng phân liêt)

Nhóm B : Kịch tính/nhiều cảm xúc/bất định (NC ranh giới,phi XH,Hystérie,vị kỷ)

Nhóm C : Lo âu (NC tránh né,ám ảnh cưởng chế,lệ thuộc)


GIỚI THIỆU CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH


NHÂN CÁCH PARANOIAQUE


1.1        Lịch sử :

Thuật ngữ Paranoiaque đã xuất hiện từ buổi đầu của ngành tâm thần. Nó bị lạm dụng khá nhiều trước khi được đặt đúng vị trí dùng để chỉ hoang tưởng hệ thống hóa phối hợp ý tưởng bị hại và tự cao.Từ nguyên học cho thấy Paranoiaque có nghĩa là nghĩ sai ý ,đối đầu.

Đầu thế kỷ 19 ESQUIROL đã mô tả những người”khùng đơn độc nhưng còn  lý trí” (Monomanie raisonnante) có rất nhiều điểm sau này tương đồng với RLNC  Paranoiaque.

1878 FALRET mô tả những người sợ bị hại-gây phương hại người khác với các nét như quá nhậy cảm,lỳ lợm,kiêu ngạo gần như hoang tưỏng.

1895 SEGLAS định nghĩa Paranoiaque “người bệnh cứ vơ vào mình các điều họ cho là gây hại cho mình một cách không phê phán,không kiểm tra,tin tuyệt đối nhưng họ vẫn sáng suốt không tới mức hoang tưởng”.Ông còn gọi RLNC này bằng thuật ngữ “Điên một cách hệ thống”(Folie systématique)

Đầu thế kỷ 20 KRAEPELIN mô tả những người khó chịu không thật (Pseudo- quérulant) với đặc tính phàn nàn,hay gây chuyện nhưng không tới mức hoangtưởng.

1924 DUPRÉ,GENIL-PERRIN rồi MONTASSUT coi RLNC này như tiền đề cho tình trạng hoang tưởng sau này.

1927 KRETSCHMER rất nổi tiếng với việc phân loại Paranoiaque làm 3 nhóm:

–         Nhóm tấn công:hay gây chuyện,gây hấn,dai dẳng.

–         Nhóm mơ mộng:các tư tưởng gia,vị tha,tính cách khác người.

–         Nhóm nhậy cảm :nhậy cảm,nhút nhát,mềm mỏng,luôn nghĩ rằng mình sẽ thất bại, bị sĩ nhục.


1.2. Tỷ lệ – Cơ chế tâm sinh lý bệnh

Có thể chiếm từ  0,5 tới 2,5% dân số chung.Tỷ lệ cao ở các gia đình có người thân bị tâm thần phân liệt hoặc rối loạn hoang tưởng. Thường thấy ở nam nhiều hơn

Cơ chế sinh bệnh :

+ Nghi yếu tố di truyền,bất ổn gia đình lúc còn bé,bị lạm dụng lúc bé.

+ Các cơ chế tâm lý vô thức : để đáp trả các yếu tố Stress

Phóng chiếu : gán cho xung quanh các cảm xúc riêng của mình, các xung động.

Chối bỏ : không nhìn nhận thực tại. Đồng hóa mình với kẻ xâm hại.


1.3. Chẩn đoán theo DSM IV : dựa trên điểm A và B

A.Sự nghi ngờ xâm chiếm đối với mọi người,mọi thái độ đều bị cho là có ý xấu, thường xuất hiện lúc bắt đầu trưởng thành trong nhiều hoàn cảnh khác nhau và có ít nhất 4 trong các biểu hiện dưới đây :

(1) Tin tưởng không hợp lý là mọi người loại trừ , gây hại hoặc lừa dối mình.

(2) Luôn bận tâm từ những nghi ngờ vu vơ về sự trung thành,thủy chung của bạn bè, những người cộng tác.

(3) Dè dặt không dám bộc lộ với người khác vì sợ các thổ lộ này có thể bị sử dụng để chống lại mình.

(4) Luôn thấy các ẩn ý,đe dọa,sỉ nhục trong các lời nhận xét,sự kiện vô hại.

(5) Để bụng,không bao giờ tha thứ khi bị tổn thương, nhục mạ.

(6) Đáp trả tức thời hoặc phản ứng cuồng nộ với điều mà mọi người thấy không không có gì nhưng bệnh nhân cho là gây hại,tồn thương uy tín của mình.

(7) Nghi ngờ vô lý và thường xuyên sự chung thủy của người phối ngẩu.

B. Không xuất hiện trong giai đoạn tiến triển của tâm thần phân liệt, rối loạn khí sắc có loạn thần hoặc một loại loạn thần khác, và cũng không phải do một bệnh lý cơ thể gây tác động tâm lý.


1.4. Chẩn đoán phân biệt :

·        Rối loạn hoang tưởng : hoang tưởng rỏ nét, hằng định,có tổ chức.

·        Tâm thần phân liệt hoang tưởng: kém ảo giác,rối loạn tư duy.


1.5. Tiên lương và điều trị:

o       Tiên lượng đa dạng,các trở ngại về quan hệ-nghề nghiệp luôn có. Trường hợp xấu : trầm cảm, lo âu, rối loạn hoang tưởng, loạn thần.

o       Điều trị chủ yếu là tâm lý liệu pháp nâng đỡ,cần chú trọng trên mối quan hệ bền vững giữa thầy thuốc-bệnh nhân để tạo sự tin cậy. Đồng thời nhấn mạnh thực tế đối với họ,phát huy các mặt mạnh .

o       Thuốc chỉ sử dụng trong các trường hợp lo âu,kích động với Haldol liều thấp, Diazépam.


1.6. Minh họa lâm sàng:

Người nghi kỵ

Khi tôi mới được nhận vào làm nhân viên trong một công ty(CT) dụng cụ văn phòng thì đã biết sơ về G.,anh ta nghe nói làm việc đã lâu nhưng không lên chức.Ngày đầu tiên tôi chủ động làm thân với mọi người để tạo thuận lợi cho công việc.G.tiếp tôi rất lạnh lẽo,thậm chí không mời ngồi,anh ta trạc 50,

vẻ lanh lẹ nhưng cực kỳ nghiêm túc,cảm giác như trong quân đội.Tôi liếc thấy khi mình tới gần,G. lập tức để máy tính qua chế độ màn hình”mờ”.Mở đầu câu chuyện tôi hỏi về quan hệ giao dịch với khách hàng,G.mỉa mai rằng cậu phải rành việc mới nhận được chổ làm chứ phải không? Bị dội gáo nước lạnh,

tôi cáo từ ngay.Ngày hôm sau,tôi có một lá thư của G.trên bàn làm việc, trong là bảng hướng dẫn của công ty về cách cư xử với khách hàng,thứ này thì tôi đã nằm lòng rồi, cái tôi cần là ý kiến cá nhân G. Dù sao thì vài tuần sau chúng tôi cũng đã có thể nói vài câu với nhau,tuy nhiên khi câu chuyện bắt đầu thoãi mái để G.tự bộc bạch thì đột nhiên anh ta khựng lại rồi đột ngột bỏ đi bảo có việc quan trọng.

Tuần kế đó có 1 khách hàng phone tới đề nghị chuyển mọi giao dịch với CT từ G. sang tôi,để tránh phiền phức và nhất là không muốn G.biết tin này từ những người khác,tôi có để lại 1 mảnh giấy trên bàn anh ta.Sáng hôm sau G. hùng hổ tìm tới và kết tội tôi đoạt khách hàng của anh ta. Phải nói đi nói lại rất nhiều lần rằng chính khách hàng gọi tới mới làm anh ta nguôi đi,tuy nhiên vẫn có cảm giác là anh ta không tin tôi hoặc có một cái gì đó trong G.luôn chiến đấu ngăn anh ta tin cậy mọi người.Cô thư ký chung phòng chứng kiến từ đầu tới đuôi thì cười mà rằng tôi không phải là nạn nhân đầu tiên,trước tôi G. đã vài lần nghi oan và nổi dóa với vài người rồi.

Sáng hôm sau gập lại cũng may là thấy G.thoải mái,lúc gợi chuyện thấy anh ta có vẻ tin tôi. Sau này khi làm việc với nhau thường xuyên rồi,tôi cố gắng làm G. hiểu là tôi không có ý gì làm phương hại anh ta cả,nhờ vậy tôi biết một ít về đời tư của G.,hoá ra G. vẫn sống độc thân từ ngày ly dị vợ nhưng lại khá bận bịu vì dính vào 2 vụ kiện:một cái kiện người vợ cũ vì âm mưu độc chiếm căn nhà chung,vụ kia kiện hãng bảo hiểm vì không đền đủ thương tật mắt phải cho G. sau 1 tai nạn lưu thông . Có lần anh ta đưa tôi coi hồ sơ bảo hiểm,ấn tượng mạnh nhất là các lá đơn của G.,chúng hết sức tỉ mỉ rành mạch đến từng điểm một,như được soạn bởi 1 luật sư.G. còn nói thêm vụ này anh ta tự ra tòa để bảo vệ quyền lợi của mình. Thật ra G. không phải là cô độc hoàn toàn ,anh ta có 1-2 bạn thân cùng đi câu chung vào cuối tuần.

Tuần rồi lúc tôi đang đứng cùng với cánh trẻ của CT ở quanh bàn nước,tụi này vừa phá ra cười vì một câu đùa thì G. đi ngang,anh ta làm như không thấy mọi người. Hôm sau thấy thái độ thù nghịch tôi mới hiểu là G. cho là tràng cười nhắm vào anh ta. Trong trường hợp này thường tôi cứ để vài ngày trôi qua rồi G.lại sẽ gợi chuyện, vì chẳng ích lợi gì khi lúc đó tới gập và bảo rằng anh lầm rồi người ta đùa chuyện khác. Hình như G.cũng cố gắng để hòa đồng ít nhất với tôi nhưng điều đó còn khó với anh ta và vì vậy tôi phải hết sức thận trọng khi buông ra bất kỳ 1 câu đùa nào trước mặt G.

Tới nay thì tôi đã phần nào quen với G.,thật ra anh ta không phải người xấu,mặc dù đôi khi anh ta trông có vẻ như vậy.Vấn đề là ở chổ G. không tin tưởng ai, ở đâu cũng thấy toàn điều xấu. Đôi khi tôi tự hỏi anh ta được giáo dục ra sao đề trở nên như vậy?

Quan hệ giữa chúng tôi khá dần lên,G.thậm chí mời tôi đi câu chung với cánh bạn thân của anh ta,chắc chắn tôi sẽ nhận lời nhưng có lẻ phải luôn cẩn thận khi nói đùa với anh ta..


Các đặc trưng của nhân cách Paranoiaque:

Luôn nghi ngờ người khác có ý xấu đối với mình.

Cảnh giác,ngờ vực lòng trung thành kể cả với ngườithân,tìm kiếm chứng cứ

(Còn tiếp)


THƯ MỤC THAM KHẢO


Thời gian gần đây, người quan tâm điện ảnh xôn xao trước sự trở lại của bộ phim bom tấn Glass – phần tiếp nối của Split, một bộ phim về căn bệnh đa nhân cách. Có thể nói Glass (2019) do đạo diễn M. Night Shyamalan cầm trịch đã giúp khán giả thế giới biết nhiều hơn về căn bệnh tâm lý đặc biệt này.

Bộ phim Glass nổi tiếng thời gian gần đây

Rối loạn đa nhân cách (Multiple Personality Disorder – MPD) hay còn gọi là rối loạn tách rời nhận thức (Dissociative Identity Disorder – DID) là căn bệnh miêu tả tình trạng rối loạn tính cách mà ở đó người bệnh sở hữu nhiều tính cách đối lập và khác biệt. Căn bệnh tưởng như chỉ có trong những bộ phim viễn tưởng này lại hoàn toàn có thật. Thế giới ghi nhận khoảng 1 – 3% dân số toàn cầu mắc chứng bệnh này.

Mặc dù phim ảnh thường miêu tả bệnh nhân đa nhân cách bằng những hình ảnh lập dị, thậm chí là tàn độc, nhưng chứng bệnh đa nhân cách trong thực tế lại có nhiều khía cạnh khác nhau.

Nguyên nhân của căn bệnh đa nhân cách

Nguyên nhân gây nên chứng bệnh đa nhân cách không (hoặc chưa) được xác định rõ ràng. Đã có nhiều tranh cãi xoay quanh việc đa nhân cách hình thành như một phản ứng tự nhiên trước những chấn thương tâm lý khi bệnh nhân còn bé. Bệnh nhân tạo ra một vỏ bọc bảo vệ bản thân trước những kí ức không tốt đẹp.

Thực tế, con người ngay từ khi sinh ra đã mang trong mình nhiều nhân cách khác nhau. Thông thường, sẽ chỉ có một nhân cách chính phát triển dựa trên điều kiện và hoàn cảnh sống phù hợp nhất. Tuy nhiên, những nhân cách còn lại không mất đi mà luôn tồn tại trong tiềm thức mỗi người.

Khi người bệnh trải qua một cú sốc lớn vượt quá khả năng chịu đựng của nhân cách chính, các nhân cách còn lại sẽ trỗi dậy, thay thế nhân cách chính để đối mặt với cú sốc đó. Khách thể không tồn tại liên tục mà thường chỉ xuất hiện khi tâm lý người bệnh bị dao động. Tùy vào mức độ tổn hại về tâm lý mà các nhân cách sẽ phát triển ở mức độ khác nhau.

Ảnh: Unsplash

Những trường hợp rối loạn đa nhân cách nổi tiếng

Trong số ít những câu chuyện về chứng bệnh đa nhân cách được ghi chép lại, có hai trường hợp nổi tiếng.

Câu chuyện thứ nhất là của cựu vận động viên NFL (National Football League) nước Mỹ – Herschel Walker.

Cầu thủ Herschel Walker – Ảnh: Daniel Shirey/USA TODAY Sports


Anh đã kể về những ngày tháng phải đối chọi với căn bệnh đa nhân cách trong cuốn Breaking Free . Trong cuốn tự truyện này, anh chia sẻ về tuổi thơ từng chịu nhiều tổn thương tâm lý và căn bệnh rối loạn nhân cách bắt đầu xuất hiện giống như một cơ chế tự vệ.


Herschel nhận ra anh có thêm hai nhân cách mới – nhân cách “chiến binh” và “người hùng” – theo như cái tên anh đặt trong cuốn tự truyện Breaking Free . Hai nhân cách này lần lượt xuất hiện, mang lại cho anh ý chí và sức mạnh thể chất đáng kinh ngạc, giúp anh đạt được những thành tựu trong thể thao. Sau khi Herschel Walker giải nghệ, những nhân cách của anh bắt đầu trở nên hỗn loạn, đẩy anh vào căn bệnh trầm cảm. Các bác sĩ sau này cũng đã kết luận những gì anh đã trải qua chính là một phần của bệnh đa nhân cách.

Trường hợp nổi tiếng thứ hai là câu chuyện về 14 nhân cách khác nhau sống trong nữ họa sĩ Kim Noble.

Nữ hoạ sĩ Kim Noble bên cuốn tự truyện All of me – Ảnh: oxleas

Kim Noble là một trong những họa sĩ nổi tiếng tại Anh Quốc, sở hữu 60 buổi triển lãm với nhiều tác phẩm từng được giới thiệu trên khắp châu Âu.

Một số bức tranh mang phong cách hoàn toàn khác biệt của Kim Noble.

Nhân cách “Anon” – một nữ tu với những bức hoạ miêu tả cuộc sống phụng sự cho đấng Cứu thế

Câu chuyện nghệ thuật của Kim bắt đầu năm 14 tuổi, khi bác sĩ trị liệu của cô chuẩn đoán cô mắc chứng bệnh đa nhân cách. Sau nhiều đợt điều trị, bác sĩ đã khuyên Kim Noble thử dùng cách vẽ tranh để khắc họa lại những nhân vật khác nhau trong cơ thể cô. Từ giây phút cầm cọ vẽ, cô gần như không thể dừng lại được và liên tục vẽ nhiều bức tranh với những phong cách hoàn toàn khác khác nhau. Mỗi phong cách tranh là hiện thân cho một nhân cách hoàn toàn độc lập bên trong cô.


Cô cũng từng chia sẻ trên chương trình truyền hình nổi tiếng Oprah Winfrey Show và cuốn tự truyện All of me rằng chứng bệnh đa nhân cách mà cô gặp phải là một cách vô cùng đặc biệt giúp cô chống chọi với những vết thương tâm lý.

Các bác sĩ từng khuyên Kim Noble điều trị để lựa chọn cho mình một nhân cách duy nhất, nhưng Kim đã từ chối. Với cô, 14 nhân cách cùng chung sống trong một cơ thể không hẳn là một căn bệnh, đó là món quà mà tạo hóa đã ban cho cô để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, đồng thời cho phép cô bước đến những ranh giới của nghệ thuật mà không phải họa sĩ nào cũng may mắn có được.

Cuộc chiến lớn nhất là cuộc chiến với chính bản thân mình

Ảnh: Unsplash

Cả hai trường hợp trên đều là câu chuyện về những bệnh nhân mắc phải chứng bệnh đa nhân cách và hành trình biến những thiệt thòi tâm lý của bản thân thành sức mạnh. Cả Herschel và Kim đều là có những người tuổi thơ đau buồn mà họ muốn trốn chạy. Những nhân cách mới cho phép họ được sống một cuộc đời khác – một cuộc đời mới hoàn toàn tách biệt với quá khứ nhiều thương tổn.

Kim Noble, Herschel Walker hay những người mắc phải căn bệnh tâm lý này là những chiến binh dũng cảm nhất. Họ đơn độc trong cuộc đấu tranh với những bản ngã của mình. Khi một nhân cách xuất hiện nghĩa là một phần con người họ khát khao có được cuộc sống như vậy.

Có lẽ bài học lớn nhất mà chúng ta rút ra được từ những câu chuyện trên chính là cách họ biến đau thương thành sức mạnh để vượt qua thử thách cuộc đời. Trong hành trình của mỗi cá nhân, cuộc chiến với chính bản thân mình là cuộc chiến can trường nhất và người chiến thắng chính là người vượt lên chính bản thân mình để trở thành con người hoàn thiện và tốt đẹp hơn.

Chia sẻ Facebook